Lê Minh Điểm - “Làm giám đốc phải có một chút liều...”

By Đặng Hùng Vỹ

Lê Minh Điểm - “Làm giám đốc phải có một chút liều...”

Từ một đơn vị được ví như “cỗ xe đang lao xuống vực thẳm” trong những năm của thập kỷ 80 nay OPC đã trở thành một trong những công ty sản xuất thuốc đông dược hàng đầu Việt Nam được Nhà nước tặng danh hiệu Đơn vị anh hùng của thời kỳ đổi mới năm 2000. Làm nên điều kỳ diệu đó có lẽ là nhờ vào “một chút liều” của ông Lê Minh Điểm - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Dược phẩm OPC. Nhận làm giám đốc: liều lần thứ nhất Công ty Cổ phần Dược phẩm OPC (trước đây là xí nghiệp Dược phẩm TW 26) thành lập từ tháng 10 năm 1977 trên cơ sở sát nhập 8 Viện bào chế tư nhân với nhiệm vụ là sản xuất thuốc từ dược liệu theo đường lối y học cổ truyền. Từ trong chiến trường đi ra Lê Minh Điểm được phân công về đây. Đến năm 1979 ông được bổ nhiệm làm phó Giám đốc xí nghiệp Dược phẩm TW 26. Năm 1988 khi Giám đốc xí nghiệp về hưu ông được bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc. Ai cũng tưởng làm giám đốc là “ngon ăn” nhưng mấy ai biết được gánh nặng trách nhiệm đang dồn lên đôi vai ông. Bởi trải qua một thời kỳ huy hoàng với sản phẩm xuất khẩu nổi tiếng là cao Sao vàng thì đến những năm 1980 Xí nghiệp dược phẩm TW 26 đang vào thời kỳ khó khăn vì thị trường xuất khẩu lớn là Liên Xô đang sụp đổ. Năm 1988 là thời điểm mà xí nghiệp khó khăn nhất vì sản phẩm thuốc làm ra không tiêu thụ được nợ nần chồng chất gần 600 công nhân không có việc làm tiêu cực trộm cắp xảy ra hàng ngày. Lê Minh Điểm được giao chức giám đốc vào đúng thời điểm đó. Nhận một nhiệm vụ quá khó khăn như vậy quả thật là liều nhưng với suy nghĩ của riêng ông thì: “Nói thật tổ chức xác định không còn ai có thể thay thế được nên giao cho tôi. Bản thân tôi cũng chẳng muốn nhận nhưng là nhiệm vụ của tổ chức giao cho nên bắt buộc tôi phải làm và cố làm cho thật tốt”. Có lẽ lòng dũng cảm ý chí sẵn sàng xông pha vào những nơi gian khó nhất của người cách mạng đã ăn sâu vào con người ông. Tinh thần “đã không làm thì thôi làm thì phải cho đến cùng làm đến nơi đến chốn” đã giúp ông vạch ngay một chiến lược khi tiếp nhận nhiệm vụ. Trao đổi với Thứ trưởng Bộ Y tế ông đề nghị hai việc: “Tôi sẽ nhận nhiệm vụ trong hai năm. Nếu sau 2 năm xí nghiệp không khá lên được tôi sẽ thôi công tác này. Thứ hai mong Thứ trưởng có một buổi nói chuyện trước với toàn thể cán bộ công nhân viên của xí nghiệp; trong đó nhấn mạnh đến những vấn đề mà tôi sẽ tiến hành cải tổ trong nay mai”. Phương án “phiêu” thứ hai: đổi mới Được sự động viên của Thứ trưởng việc đầu tiên là ông họp toàn thể Xí nghiệp và thể hiện quyết tâm: “Sau một năm phải chặn đứng cỗ xe đang lao xuống vực” với thỏa thuận: “Nếu không được thì biện pháp cuối cùng là phải giảm biên chế”. Tiếp theo ông cho cả xí nghiệp đi bán hàng– người người đi bán nhà nhà đi bán vợ bán chồng bán… Bán được hàng sẽ được hưởng hoa hồng 10%. Nhờ vậy chỉ 2 tháng sau hàng tồn kho đã được giải phóng. Nhưng bước vào sản xuất lại diễn ra tình trạng không bán được hàng. Để trả lương cho công nhân và có tiền trang trải nợ nần Lê Minh Điểm đánh liều xin lãnh đạo Bộ cho Xí nghiệp được mua một số thuốc tân dược về bán lại lấy phần chênh lệch để trả lương để trang trải nợ nần. Kế đến ông đề nghị được sản xuất thuốc tân dược để giải quyết khó khăn trước mắt vì ngành đông dược – ngành chủ lực của công nghiệp Dược Việt Nam lúc đó đang mất phương hướng. Tuy nhiên trước những giải pháp tình thế đó vẫn không giải quyết được tận gốc vấn đề chỉ còn con đường duy nhất là đổi mới phải tự cứu mình trước khi trời cứu. Ông quyết định chọn biện pháp cuối mạnh tay hơn trong xử lý đó là cắt giảm biên chế. Giám đốc Lê Minh Điểm đã lường trước được rằng: việc làm này sẽ gây tiêu cực không nhỏ vì tinh giảm biên chế là ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều cán bộ công nhân viên của xí nghiệp. Cho nên ban đầu ông dự kiến giảm khoảng 100 người. Nhưng để giảm tiêu cực không đáng có một chính sách đi kèm được đưa ra: nếu nhân viên nào nghỉ sẽ được trợ cấp 1 năm lương để có điều kiện ổn định cuộc sống. Do cách làm có tình có lý nên số người tự nguyện nghỉ lên gần 200 người. Biện pháp tinh giảm nhân lực xem như ổn nhưng vấn đề tiền ở đâu? để giữ đúng lời hứa. Ông phải đi vay tiền nhiều nơi. Nhưng đụng chạm đến lợi ích của nhiều người thật không dễ dàng có một số người bất mãn nói là sẽ tố cáo ông. Nhưng quyết tâm cao độ của bản thân đã giúp che lấp mọi lo ngại ông quả quyết rằng: “Tôi cũng không sợ chỉ sợ mất thời gian”. Đích thân Giám đốc Lê Minh Điểm chủ động mời gặp những người chống đối; ngồi lại cùng nhau trò chuyện trên tinh thần cởi mở để giải quyết vấn đề. Ông giải thích tất cả thắc mắc của mọi người và giải quyết mọi yêu sách của họ. Cuối cùng từ chống đối và định kiến mọi người trở nên cảm thông và đồng ý với những phương án mà ông đưa ra. Có lẽ chỉ những người thẳn thắn như Lê Minh Điểm mới dám cải tổ bằng phương pháp đấu tranh quyết liệt như vậy. Để cuối cùng bộ máy Xí nghiệp được tinh gọn từ 12 phòng ban phân xưởng xuống còn 7 hàng loạt quy chế mới ra đời hoạt động dần đi vào ổn định. Kéo “cỗ xe OPC” đi lên từ vực thẳm Bộ máy đã tinh giản Lê Minh Điểm vẫn tiếp tục đổi mới để phát triển trong sản xuất. Ông quyết định tìm hiểu quá trình sản xuất thuốc đông dược của Trung Quốc song cái khó là lúc này ta và Trung Quốc đang cắt đứt quan hệ ngoại giao với nhau. Ông vẫn quyết định mạo hiểm vượt biên sang thăm các xí nghiệp ở tỉnh Vân Nam - Trung Quốc các xí nghiệp bạn thì tiếp đón rất nhiệt tình nhưng Bộ công an của họ thì không cho phép ông và những người cùng đi bị bắt vì lý do xâm phạm lãnh thổ trái phép. Sau đo mỗi người phải nộp phạt 500 tệ mới được trả về. Sau lần đó ông tiếp tục sang Trung Quốc hai lần nữa lại bị phạt tiếp. Dù bị bắt nhưng ông đã thu được kết quả: “Thuốc đông dược của Trung Quốc phát triển tốt thuốc đông dược Việt Nam chắc cũng vậy vấn đề là phải đầu tư đổi mới công nghệ”. Đến lúc này việc tìm hiểu nghiên cứu để sản xuất thuốc đông dược dường như đã ăn sâu vào trong máu thịt của giám đốc Lê Minh Điểm rồi. Ông chủ trì nhiều công trình nghiên cứu tìm ra nhiều loại thuốc mới trong đó có việc đưa vào sản xuất kim tiền thảo – một sản phẩm được coi là chủ lực của OPC trong một thời gian dài sau này. Muốn sản phẩm tốt hơn đầu tư đổi mới công nghệ là điều tất yếu song “với tôi đầu tư vào con người còn quan trọng hơn” – ông chia sẽ. 6Vì vậy xí nghiệp đã tổ chức cho toàn thể cán bộ lãnh đạo từ cấp phó phòng đi học trung cấp chính trị học quản lý kinh tế cử người đi học vi tính… Năm 1990 xí nghiệp đã thực hiện xoá mù vi tính thành công cho dàn cán bộ góp phần nâng cao công tác quản lý. Đồng thời ông còn mạnh dạn tổ chức cho các cán bộ quản lý đi tham quan những mô hình sản xuất tại nhiều nước bạn như: Trung Quốc Thái Lan Đức Pháp các nước Đông Âu… để mở rộng tầm nhìn. Nhờ vậy trình độ của cán bộ được nâng lên rõ rệt. Giờ đây OPC đã có đội ngũ cán bộ quản lý nghiên cứu có năng lực tốt những dây chuyền sản xuất hiện đại. Tất cả những yếu tố đó tưởng chừng đã đủ để OPC có thể phát triển vững mạnh hơn xưa nhưng với quan niệm của riêng Giám đốc Lê Văn Điểm: “Có con người tốt máy móc tốt san phẩm tốt thì vẫn chưa đủ cần phải có một thị trường tốt nữa. Vì vậy bên cạnh việc mở rộng thị trường trong nước chúng tôi mạnh dạn mở rộng thị trường xuất khẩu sang nước ngoài”. Câu chuyện tự tìm kiếm thị trường xuất khẩu của ông thời điểm đó cũng được xem là khá táo bạo vì rủi ro là rất lớn. Biện hộ cho sự táo bạo này ông cho rằng: “Làm giám đốc phải có một chút liều”. Trước đây Dược OPC chủ yếu là xuất khẩu qua các công ty xuất nhập khẩu trung gian nên không thể chủ động trong việc điều phối sản phẩm. Theo dự tính của Lê Minh Điểm nếu thành công kế hoạch trên sẽ giúp cho việc xuất khẩu của OPC chiếm gần nửa doanh thu của xí nghiệp mỗi năm. Nhưng rủi ro và khó khăn cũng nhiều không kém. Có khi xuất cả triệu đô la nhưng không thu được tiền ngay có lúc hàng bị lạc nửa năm sau mới tìm thấy có lúc tưởng chừng phải bỏ của chạy lấy người. Còn bản thân ông bị trói và dí súng vào đầu bị trấn lột ở Kiev Tiệp Khắc. “Vừa làm vừa run. Có người bảo đã run thì không làm. Nhưng không làm còn run hơn” – ông thừa nhận. Phiêu lưu và liều lĩnh là thế nhưng cái mà Lê Minh Điểm thu được về cho Dược OPC: đưa một công ty gần như phá sản trong thời bao cấp trở thành một công ty cổ phần đầu tiên trong ngành dược và hôm nay lên sàn chứng khoán với tất cả thực lực của một tập đoàn đủ sức cạnh tranh trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới. Hơn ba mươi năm kinh doanh và làm khoa học chỉ để tìm quanh mình những con người thì những gì ông nhận được ở trên hay danh hiệu Anh hùng lao động quả rất xứng đáng. Đặt cược với cả cuộc sống của gia đình Tính cách thẳng thắn và những chiến lược mạo hiểm đã có lúc buộc ông phải đặt cả gia đình mình vào “ván bài” sống còn của công ty. Thời điểm ông thực hiện tinh giản bộ máy của OPC có những người bất mãn đã viết thư nặc danh đe dọa gia đình kích động vợ ông làm ly gián gia đình. Đã có lúc đứa con trai của ông phải van xin: “Ba đừng làm Giám đốc nữa con sợ lắm. Họ nói là họ sẽ giết ba và giết con”. Nhưn ông vẫn đặt cả gia đình vào chỗ nguy hiểm vì ông đã biết chắc rằng mình sẽ thắng. Việc làm của ông còn có số đông ủng hộ có bạn bè giúp đỡ. Gần ba mươi năm qua vừa gánh vác công việc của cơ quan vừa làm bố vừa làm mẹ dạy dỗ con cái ông đã gặp nhiều khó khăn. Nhưng ông vẫn lạc quan cho đó là một may mắn ông cho rằng trong cái họa có cái phúc. Đó chỉ là cách nói của riêng ông còn ai cũng biết rằng chính sự nghiêm khắc và tình thương bao la của người cha; cách giáo dục tập cho các con sống tự lập có khi phải cầm roi đánh con để rồi sau đó ôm con vào lòng 2 cha con cùng khóc đã giúp các con ông trưởng thành. Hiện nay con trai ông đã là một Đảng viên gia đình luôn thuận hòa vậy mà nhiều lúc ông vẫn tự hỏi mình rằng: “hạnh phúc hay là mơ?” Có lẽ với tất cả những gì đã làm ông không chỉ là tấm gương sáng cho các con không chỉ chiếm được tình cảm của nhân viên và bạn bè; mà điều quan trọng hơn cả là ông rất xứng đáng với danh hiệu người thầy thuốc của nhân nhân người sản xuất thuốc theo tiêu chuẩn VCTL (Với Cả Tấm Lòng) như bác sĩ Lương Lễ Hoàng đã nhận xét. Thanh Huyền - Thu Hương “Theo http://chuyendoanhnhan.com/”

More...

Alwaleed Bin Talal - Warren Buffett của thế giới Ả Rập

By Đặng Hùng Vỹ

Alwaleed Bin Talal - Warren Buffett của thế giới Ả Rập

Trong giới đầu tư quốc tế ông là nhà đầu tư có “đai đẳng”. Ông nổi tiếng “mát tay” trong đầu tư động vào cái gì nào thì cái ấy ít nhiều đều đem lại lợi nhuận. Hiện nay cổ phiếu ông có trong tay bao gồm hàng loạt tên tuổi lớn trên thế giới như Cca Cola Motorola eBay Citibank Pepsi McDonald Disney Amazon Ford Kodak Xerox Time Warner Four Season Hotels & Resorts ...Với tổng tài sản ước tới 20 3 tỷ USD Alwaleed Bin Tahal hiện là tỷ phú giàu thứ 13 trên thế giới Những bước đi đầu tiên Alwaleed Bin Talal đã sớm tiếp thu nền giáo dục của Mỹ. Năm 1979 ông đạt học vị ưu tú của Khoa Quản lý Thương nghiệp Đại học California. Năm 1985 ông lấy học vị thạc sĩ ngành xã hội học của Trường Đại học Syracuse. Trong suốt thời gian học tập ông luôn cần mẫn và chăm chỉ học hành không hề để lại ấn tượng của con nhà giàu cao sang quyền quý. Năm 1979 ông trở về Saudi Arabia nhận 15.000 USD từ người cha và bắt đầu bước chân vào thương trường từ đây ông bắt đầu triển khai một loạt các thương vụ mạo hiểm. Sau 2 cuộc khủng hoảng lớn của của ngành dầu khí trên thế giới vào cuối thấp niên 70 của thế kỉ trước Saudi Arabia đã thu được món tiền lớn từ việc bán dầu. Hoạt động thương mại trong nước cũng trở nên sôi nổi. Alwaleed Bin Talal lợi dụng mối quan hệ của bản thân và tiền vốn trong tay trở thành người nhận thầu và đại diện thương mại cho các công ty nước ngoài. Chỉ trong thời gian mấy năm lợi nhuận của ông đã lên đến con số hàng triệu USD. Dự kiến chính phủ sẽ dựa vào đồng đôla kiếm được từ dầu mỏ để thực thi chính sách phúc lợi cao điều đó sẽ gây ra những tác động mạnh mẽ đối với thị trường bất động sản trong nước Alwaleed Bin Talal đã mua mộ khu đất lớn tại thủ đô Riyadh. Về sau giá trị của khu đất này là vô cùng lớn. Đồng thời khu đất còn là cơ sở để ông trở thành người có tài sản tư hữu lớn nhất. Ông quả là một tay dự đoán kiệt xuất. Cùng với sự thành công trong kinh doanh bất động sản và kiến trúc tài sản của ông không ngừng tăng lên. Ông thành lập Công ty Kingdom Holding Company vươn dài cánh tay tới các lĩnh vực khác. Năm 1986 ông trở thành cổ đông lớn nhất của Ngân hàng liên hợp Saudi Arabia. Mặc dù nhiều năm thua lỗ liên tiếp nhưng đến 1989 ngân hàng này đã trở thành ngân hàng thương mại kinh doanh tốt nhất của Saudi Arabia. Đến thập niên 90 Alwaleed Bin Talal bắt đầu hướng ra thị trường quốc tế rộng lớn. Lợi dụng thành công sự giàu có và dòng máu hoàng gia của mình ông tạo dựng được một mạng lưới các quan hệ với lãnh đạo của các quốc gia và thương nhân khắp thế giới. Từ đây tên tuổi cũng như sự thành công của ông được nhiều người trên thế giới biết đến. Và cũng chính từ đây ông đã đặt chân của mình đi những bước đi trên con đường trở thành tỉ phú. Trong hơn 10 năm ông luôn tìm kiếm thu mua với số tiền lớn cổ phiếu của các công ty lớn. Những công ty nổi tiếng nhất trên thế giới đều có cổ phần của ông. Hiện nay cổ phiếu mà ông có trong tay bao gồm hàng loạt tên tuổi lớn như: Cocacola Motorola Ebay Citybanks Pepsi McDonald s Disney Amazon Ford Kodak Xerox AOL Time Warner Four Seasons Hotels & Resorts… Đại bộ phận cổ phiếu của ông ở Mỹ trước mắt ông là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở Mỹ. “Người cứu vớt” và những chiến lược đầu tư đặc biệt Từ năm 1990 trở lại đây Al Wleed Bin Talal đã tiêu tốn hơn 10 tỉ USD đầu tư vào thị trường cổ phiếu Mỹ. Ông đích thực rất giỏi trong việc đầu tư vào các công ty nổi tiếng đang gặp khó khăn sau đó lợi dụng giá tăng lên trên thị trường cổ phiếu mà kiếm lợi. Khi nói về mình Alwaleed Bin Talal đã khẳng định: “Với tôi đã nghĩ sẽ làm điều gì thì tôi sẽ làm đến cùng và chúng phải thật sự mang lại lợi nhuận còn không dứt khoát tôi sẽ không làm”. Chiến tích “người cứu vớt” của ông được khẳng định với hàng loạt thương vụ nổi tiếng. Một trong số đó là việc ông đầu tư vào Ngân hàng City Banks. Trong giai đoạn ngân hàng này rơi vào cơn suy thoái hầu như tất cả mọi người đều ngần ngại đầu tư cho nó. Nhưng bằng khả năng dự đoán kiệt xuất của mình Alwaleed Bin Talal đã mạnh dạng đầu tư vào đó. Kết quả là cùng với nguy cơ thiếu hụt vốn đầu tư của City Banks được đẩy lùi giá cổ phiếu của ngân hàng này còn lên như diều gặp gió chỉ trong chớp mắt Alwaleed Bin Talal thu được danh lợi đôi đường. Tổng Giám đốc của Ngân hàng City Banks - John Reid đến nay còn vô cùng cảm kích: “Alwaleed Bin Talal đúng là một nhà đầu tư cổ phiếu xuất sắc rất có nhãn quan. Tính kiên nhẫn đã giúp ông ấy biết chờ đợi thành công đến với mình. Chúng tôi đã vô cùng biết ơn ông ấy”. Không chỉ có thế ông hoàng chịu chơi này đã “mát tay” chi ra món tiền lớn để làm chủ 22% tổng vốn của Tập đoàn Four Seasons. Được biết sau khi đã gầy dựng Four Seasons trở thành tập đoàn quản lý chuỗi khách sạn 5 sao Four Seasons nổi tiếng thế giới từ năm 1961 Isadore Sharp muốn có thêm thật nhiều tiền mặt để khuếch trương giang sơn của tập đoàn này. Sở hữu 67% tổng tài sản Four Seasons nhưng nhà tỷ phú người Toronto này muốn bán bớt phần mình để có tiền mặt tiếp tục đầu tư phát triển. Và hơn ai hết chính ông hoàng Alwaleed Bin Tallal là người dư thừa tiền mặt để giúp Isadore Sharp thực hiện điều này. Không có Alwaleed Bin Talal Four Seasons sẽ khó mà phát triển hệ thống khách sạn của mình. “Hoàng tử Al-Waleed đã nhấn mạnh với tôi rằng ông muốn trở thành một đối tác làm ăn lâu dài với Four Seasons. Chúng tôi đã cam kết với nhau thực thi trọn vẹn những gì đã thống nhất và cho đến nay tôi phả ngả mũ chào kính hoàng tử vì ông đã giữ rất đúng lời hứa nói sao làm y như vậy. Ông đúng là một doanh nhân thứ thiệt” Isadore Sharp nhận định. Trong những năm qua Alwaleed Bin Talal còn chi thêm hàng trăm triệu USD vào các tài sản địa ốc mà ông làm chủ từ 15% đến 75% một số trong các tài sản này còn ở dạng dự án đang xây dựng mới phát triển. Việc đầu tư đối với Alwaleed Bin Talal không chỉ có mục đích duy nhất là kiếm tiền. Với ông việc mạnh tay giúp Four Seasons khuếch trương thương hiệu của mình trên khắp thế giới đặc biệt là Trung Đông còn vì mục đích khác. Đó là mục đích làm thay đổi bộ mặt của một Trung Đông cũ kỹ và bảo thủ. “Hoàng tử nhận xét rằng hầu hết các khách sạn ở Trung Đông đều đã cũ kỹ lạc hậu. Chiến lược của ông là mang đến cho thị trường này nhiều sản phẩm mới hiện đại hơn cả nhiều cơ sở hiện đại sẵn có ở các thị trường Mỹ châu Âu” Chuck Henry - Chủ tịch Hotel Capital Advisers khách hàng của Hoàng tử Alwaleed Bin Talal nói. Ông này còn cho biết nhờ có hậu thuẫn tài chính của Alwaleed Bin Talal mà Four Seasons và Fairmont Hotels & Resorts đang bành trướng nhanh ở Trung Đông hơn bất kỳ thị trường nào khác và hơn mọi đối thủ khác. Tuy nhiên không phải ai cũng chỉ có toàn thành công mà không gặp rủi ro. Alwaleed Bin Talal cũng vậy. Việc đầu tư của ông không phải lúc nào cũng mang lại lợi nhuận. Đặc biệt là trong những năm trước khi mà mạng internet chưa được phổ biến trên khắp thế giới. Tuy nhiên đó cũng chỉ là những hạt cát nhỏ trên con đường trải thảm đỏ mà ông đang đi. Hiện tại xét trên góc độ thành công ông chính là nhà đầu tư tài ba thứ 2 trên thế giới chỉ sau “ông thần cổ phiếu” Warren Buffett. Có người nói ngay cả lúc nhà đầu tư có kinh nghiệm phong phú Warrent Buffett cảm thấy lúng túng đối với thị trường chứng khoán Alwaleed Bin Talal cũng dám đánh cược lớn. Tạp chí Times đã gọi ông là “Warren Buffett của thế giới Ả-rập”. Khi nói về Alwaleed Bin Talal Warren Buffett cũng đôi phần nể trọng. “Tại Omaha (nơi Warren Buffett nắm phần lớn cổ phần) mọi người gọi tôi là AlWleed Bin Talal của nước Mỹ tôi vô cùng vinh hạnh vì được gọi như vậy” Warren Buffett nói. Alwaleed Bin Talal đã rất thành công. Hiện tại ông là người giàu có nhất trong các thành viên của các hoàng gia trên khắp thế giới. Từ những thập niên 90 của thế kỉ trước trở lại đây ông không ngừng là hình tượng tiêu biểu trong giới đầu tư quốc tế trên các phương tiện thông tin đại chúng ở các nước Trung Đông và phương Tây. Theo Tạp chí Forbes với tổng tài sản ước tới 20 3 tỷ USD Alwaleed Bin Talal hiện là tỷ phú giàu thứ 13 thế giới. Tuy nhiên giống như bao người khác của hoàng tộc Alwaleed Bin Talal cũng nổi tiếng là người chi tiêu rất hào phóng. Tỷ phú “xài sang” Trong sa mạc gần thủ đô Riyadh ông đã cho xây dựng một lều trại hiện đại với các thiết bị kỹ thuật cao: điện thoại di động máy fax máy in máy tính thiết bị vệ tinh …để bất kì lúc nào ông cũng có thể nắm bắt được các thông tin của thị trường chứng khoán và cơ hội đầu tư. Năm năm trước ông chi 130 triệu USD để xây dựng một cung điện sang trọng và xa xỉ ở thủ đô Riyadh với các kĩ thuật cao cấp nhất. Cung điện có 317 phòng được trang bị 520 ti vi 400 điện thoại 8 cầu thang máy và hồ bơi ở các lầu. Nóc của cung điện là một sân bay nhỏ. Số người phục vụ trong cung điện là 180 người. Ông còn có riêng mấy du thuyền lộng lẫy và nhiều ôtô nhãn hiệu Rolls - Royce. Hiện giờ ông thường xuyên di chuyển bằng một chiếc Boeing 747- 400 đồ sộ ngang chuyên cơ Air Force 1 của tổng thống Mỹ sang hơn hẳn chuyên cơ của nhiều nguyên thủ quốc gia khác. Không dừng lại ở đó Alwleed Bin Talal còn bổ sung vào “bộ sưu tập phương tiện đi lại” của mình một “lâu đài bay” Airbus A380 loại máy bay chở khách lớn nhất thế giới hiện nay. Trong lần xài sang này cái giá mà ông bỏ ra không chỉ dừng lại ở mức 320 triệu USD mà số tiền chi ra chắc chắn cao hơn nhiều bởi nội thất của nó được thiết kế và trang bị lại theo đúng phong cách của ông - phong cách của một tỷ phú xài sang. Tháng 8 năm 2002 để chúc mừng việc vừa có được một nhà hàng cao cấp ông đã tổ chức một buổi biễu diễn ca nhạc lớn tại khu du lịch nổi tiếng của Ai Cập. Các ca sĩ nổi tiếng từ 76 quốc gia được mời đến để tham dự. Sau buổi biểu diễn ông tặng cho mỗi ca sĩ một tặng phẩm. Đặc biệt tặng phẩm đó chính là một chiêc xe của hãng BMW lừng danh. Để bào chữa cho cuộc sống xa xỉ của bản thân và của những người trong vương thất Alwaleed Bin Talal nói: “Sự giàu có là một loại chúc phúc nếu sự giàu có được sử dụng một cách chính xác thì không thể gọi là lãng phí hoặc lạm dụng. Tôi cho rằng những thành viên trong vương thất đều có quan niệm về quản lí tài chính bất kì vật nào họ mua đều có giá trị của vật đó”. Cùng lúc với việc tận hưởng cuộc sống xa xỉ Alwaleed Bin Talal vẫn không quên việc cứu trợ giúp đỡ những người gặp khó khăn. Ông đã gửi những khoản tiền lớn tới các tổ chức nhân đạo để cứu trợ những người khó khăn ở nhiều vùng như: Trung Đông Châu Phi Đông Âu và các khu vực khác trên thế giới mỗi khi gặp thiên tai. Tại Saudi Arabia mỗi năm ông chi hàng trăm triệu USD để cứu tế cho những người nghèo khổ thậm chí là giúp đỡ những hoàng tử không giàu có. Có lẽ vì thế mà trong thời điểm hiện nay ông không chỉ là một doanh nhân thành công mà còn là nhà từ thiện được biết đến ở nhiều quốc gia.

Đặng Trực - Phạm Vũ

More...

Maurice Hank Greenberg - Vị tướng quân tài ba của AIG

By Đặng Hùng Vỹ

Maurice Hank Greenberg - Vị tướng quân tài ba của AIG

Quyết định bỏ lại sau lưng chiếc áo lính với quân hàm thiếu uý Maurice Hank Greenberg đến với ngành bảo hiểm chỉ với mục đích mưu sinh. Nhưng sau khi đặt chân vào ngành bảo hiểm ông đã trở thành tổng giám đốc của American Internatinal Group (AIG) một tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới. Phương thức lãnh đạo độc đáo cùng những chiến lược phát triển thông minh của Greenberg đã giúp AIG vươn dài cánh tay của mình ra 130 quốc gia trên thế giới. Lợi nhuận của AIG cũng không ngừng tăng. Còn vị tổng giám đốc ấy đã trở thành người có ảnh hưởng lớn nhất trong làng bảo hiểm Mỹ được mệnh danh là “lãnh tụ của ngành bảo hiểm”. Từ thiếu úy đến tướng quân Sinh năm 1925 tại New York - Mỹ 19 tuổi Greenberg đã đổ bộ vào khắp các chiến trường ở châu Âu. Ở cái tuổi lãng mạn và đẹp đẽ ấy các bạn đồng trang lứa còn đang ngồi trên ghế nhà trường và sống dưới sự bảo bọc của gia đình. Vậy mà Greenberg đã có một ý chí sắt đá để đối mặt với bom đạn với cái chết cận kề. Năm 1945 khi thế chiến thứ hai kết thúc Greenberg trở về và học tại Trường Đại học Miami. Năm 1948 ông tốt nghiệp sơ cấp ngành pháp luật. Bất chấp những khó khăn gian khổ sau khi tốt nghiệp Greenberg tiếp tục xin tòng quân tham gia vào cuộc chiến tranh mới. Và dường như khó khăn gian khổ của chiến tranh đã hun đúc nên lòng dũng cảm không ngại khó nơi ông. Trở về sau cuộc chiến tranh Greenberg quyết định tìm một công việc để nuôi gia đình. Tình cờ đọc được thông tin tuyển dụng của một công ty bảo hiểm trên báo ông tìm đến phỏng vấn. Nhưng công ty này đã từ chối không nhận ông vào làm. Những khó khăn ban đầu không thể đánh gục ý chí niềm tin của Greenberg. Ông đã tìm đến một vị giám đốc cấp cao của Công ty bảo hiểm Continental để trình bày suy nghĩ của mình. Sự kiên trì không ngại khó của ông đã được đền đáp khi ông được nhận vào Continental. Sau 8 năm làm việc tại đây năm 1960 Greenberg đến đầu quân cho Công ty AIG. Bền bỉ chịu khó cộng với óc tính toán nhanh nhạy không lâu sau ông đã vươn lên vị trí lãnh đạo của AIG. 7 năm sau ông được đề bạt vào chức Tổng Giám đốc ở tuổi 42. Đây không chỉ là bước ngoặt trong cuộc đời Greenberg mà còn mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển của AIG. Nói cách khác Greenberg đã thổi một luồng gió mới vào AIG giúp công ty này nhanh chóng sải rộng cánh tay của mình ra thế giới. Phong cách lãnh đạo kiểu quân đội Lên lãnh đạo AIG Greenberg đã mang những gì học hỏi được trong quân đội để áp dụng vào chiến lược quản lý. Thương trường như chiến trường cơ hội và thách thức cũng cần phán đoán chỉ trong nháy mắt nếu không nắm bắt được thời cơ thì sẽ thất bại. Và tất nhiên cũng cần một vị tướng quân giỏi để chỉ huy toàn bộ. Greenberg là vị tướng quân ấy. Ông được báo giới đánh giá là một vị tướng quân một nhà lãnh đạo đầy nghiêm khắc nhưng cũng không kém hiền từ. Ông đã chỉ ra được mục tiêu cụ thể để cho toàn nhân viên tiến công. Greenberg giành sự tín nhiệm của toàn bộ nhân viên để mục tiêu đưa ra được thực hiện dễ dàng. Bởi hơn ai hết ông hiểu rằng trong một đội quân lớn tinh binh nhiều thì mỗi người đều có một chủ ý riêng nếu không chú ý đến mục tiêu chung thì hậu quả thật khôn lường. Khi đã giành được sự tín nhiệm của binh sĩ thì mệnh lệnh phát ra nhất thiết phải thực hiện nghiêm ngặt. Cách quản quân luật đã mang lại hiệu quả lớn cho AIG. Và nó cũng lý giải cho câu hỏi tại sao AIG có thể phát triển mạnh ở 130 quốc gia trên thế giới? Cách quản lý của Greenberg khiến tướng quân Eisenhowr vị tướng quân nổi tiếng của Mỹ phải thốt lên rằng: “Công việc của người lãnh đạo không phải là đẩy một cái vali mà là biết nhìn phương hướng sau đó lôi kéo tất cả mọi người đi theo hướng đó một cách hiệu quả nhất. Greenberg không thể cùng lúc đẩy 130 cái vali mà ông cẩn thận tuyển những người có năng lực chỉ cho họ phương hướng để họ đẩy giúp ông”. Tuy nhiên cách quản lý tập trung của Greenberg không phải là độc tài. Ông luôn tạo cho nhân viên có một động lực để đề xuất cách nghĩ cách làm mới nhằm duy trì sự thịnh vượng lâu dài của AIG. Điều này khiến AIG luôn có những sáng kiến mới trở thành đối tượng học hỏi của nhiều công ty bảo hiểm khác. Khi AIG xâm nhập vào thị trường nào là các công ty khác lại lũ lượt kéo vào theo. Nhưng Greenberg khẳng định rằng: “Các công ty khác có thể bắt chước mô hình làm việc của AIG nhưng không thể bắt chước cách suy nghĩ của AIG”. Bởi trước khi xâp nhập vào một thị trường của một quốc gia nào đó Greenberg đều tìm hiểu thiết lập quan hệ với quốc gia ấy từ trước đó rất lâu. Hơn nữa “suy nghĩ của AGI” luôn được ông nuôi dưỡng duy trì bằng cách đề cao vai trò và sự sáng tạo trong mỗi nhân viên. Khi nhân viên đã đưa ra ý tưởng mới đều phải hiện thực hoá ý tưởng đó. Geenberg sẵn sàng cho họ một đội quân nhỏ để thực hiện ý tưởng mới hay cho các giám đốc quyền tự do kinh doanh theo hướng của họ. Nếu họ thành công thì sẽ được thưởng còn nếu thất bại phải tự rút kinh nghiệm và nhận những lời góp ý từ người khác. “Mỗi người đều có cách nghĩ mà bản thân cho là tốt nhất nhưng không phải cách nghĩ nào cũng mang lại sự thành công” Greenberg khẳng định. Điều này không chỉ phát huy được tính sáng tạo trong mỗi nhân viên của AIG mà còn giúp các bộ phận trong tập đoàn thống nhất với nhau hơn. Cũng chính vì vậy mà Greenberg luôn tự hào phát biểu trước báo giới rằng: “Văn hóa từng bộ phận của chúng tôi là bồi dưỡng cho từng nhân viên có năng lực phán đoán độc lập không cần để những giải pháp hàng ngày bó buộc tay chân của họ”. Dường như hình ảnh của vị tướng quân tài ba Greenberg hiện lên dần một rõ nét hơn. Ông là vị tướng quân đầy uy lực và nghiêm khắc. Chỉ cần ông quyết định tấn công vào đâu là hàng ngàn nhân viên phải tuân lệnh và làm theo. Nhưng giữa thương trường khốc liệt giống như một chiến trường thiên biến vạn hóa ông lại cho nhân viên những quyền hạn nhất định để độc lập xử lý các tình huống đó. Chiến lược táo bạo Khuyến khích nhân viên sáng tạo cho họ những quyền hạn nhất định là cách Greenberg tăng cường sức mạnh cho đội quân AIG. Sức mạnh ấy đã giúp các chiến lược của ông được thực hiện một cách hoàn hảo nhất. Ngay từ khi trở thành Tổng Giám đốc AIG Greenberg đã đưa ra chiến lược bành trướng quốc tế biến AIG thành một công ty quốc tế hóa. Với sự nhạy bén quan điểm “kinh doanh bảo hiểm cần chú trọng chiến lược lâu dài” ông đã gieo ở mỗi quốc gia trên toàn thế giới một hạt giống và đến hôm nay hạt giống đó đã trở thành một cái cây trưởng thành. Và trong chiến lược bành trướng này ông đặc biệt chú ý đến các thị trường mới nổi đặc điểm khác biệt của từng thị trường. Táo bạo và đầy thông minh Greenberg đã giúp AIG tăng trưởng bền vững trong suốt thời gian dài tại các thị trường Trung Quốc An Độ Trung Au Nam Mỹ và châu Á. Luôn song hành với chiến lược bành trướng là việc đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh. Dưới sự lãnh đạo của Greenberg AIG không chỉ có một mạng lưới kinh doanh rộng khắp mà còn là một công ty có nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Bên cạnh lĩnh vực bảo hiểm công - thương nghiệp AIG còn là công ty bảo hiểm ô tô lớn nhất nước Mỹ. Ngoài ra AGI còn kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tài chính. Ở lĩnh vực này công ty cho thuê tài chính quốc tế -thuộc tập đoàn dịch vụ tài chính AIG - là một công ty dẫn đầu cho thuê và môi giới bán các loại máy bay ở khắp các khu vực. Các hạng mục kinh doanh của AIG đã khiến nhiều người phải “hoa mặt chóng mày” lẫn cảm phục tài lãnh đạo của Greenberg. Nhưng chiến lược được xem là táo bạo nhất của Greenberg có lẽ là chiến lược thôn tính. Rất nhiều năm nay AIG đã tiến hành hàng loạt các vụ thôn tính các công ty nhỏ hơn. Gần đây nhất phải kể đến cuộc thôn tính Công ty bảo hiểm Sun America trị giá 18 tỉ USD vào năm 1998 thôn tính Công ty bảo hiểm General trị giá 23 tỉ USD năm 2001. Cách thức này không chỉ nhằm mở rộng thị phần mà điều quan trọng hơn là giúp lợi nhuận của AIG tăng trường mạnh mẽ. Bởi với Greenberg: “Kinh doanh bảo hiểm lợi nhuận trong kinh doanh là quan trọng nhất. Một công ty bảo hiểm không được đem thị phần ra so sánh để cho rằng đó mới là quan trọng nếu không sẽ không đủ năng lực để thoát khỏi những tổn thất tai hại. Khống chế giá thành và uy tín là hai nguyên tắc để đảm bảo lợi nhuận”. Lấy lợi nhuận làm thước đo Greenberg đã yêu cầu tất cả các chi nhánh của AIG phải tuân thủ nghiêm hai nguyên tắc trên đồng thời tiếp tục thực hiện thôn tính nhiều công ty nữa trong tương lai. Một chiến lược thông minh nữa mà nhiều nhà lãnh đạo khác phải học tập từ Greenberg là khả năng ngoại giao. Cái nhìn khôn ngoan “thêm bạn bớt thù” khiến Greenberg không ngừng thiết lập quan hệ với nhiều nhà quản lý lãnh đạo của nhiều quốc gia trên thế giới. Và các cuộc làm ăn sự hợp tác của AIG cũng được đơm hoa kết trái từ những mối quan hệ này. Bộ óc thông minh phong cách lãnh đạo độc đáo của Greenberg đã giúp AIG không ngừng lớn mạnh. Thị trường được mở rộng ra khắp thế giới. Nếu như giá trị của AIG trên sàn chứng khoán New York chỉ khoảng 300 triệu USD khi ông mới lên nắm quyền thì đến năm 2003 con số này đã vượt qua 150 tỉ USD. AIG trở thành công ty đứng thứ 9 trong số 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ.

Thanh Huyền - Thái Kiên (Tổng hợp)

More...

Chuyện về ông chủ đầu tiên của Coca-Cola

By Đặng Hùng Vỹ

Chuyện về ông chủ đầu tiên của Coca-Cola

Dù hoạt động của Coca-Cola có thể lãi có thể lỗ nhưng chắc tập đoàn khó có thể phá sản nổi bởi vì riêng thương hiệu Coca-Cola đã được định với một mức giá cao nhất trong tất cả các thương hiệu hiện nay. Người đầu tiên xây dựng nên thương hiệu Coca-Cola trên 70 tỉ USD đó và cũng là ông chủ đầu tiên của tập đoàn Coca-Cola là Asa Griggs Candler. Mùi vị không thay đổi qua trên 100 năm Đã từ lâu lắm rồi cái tên nước giải khát Coca-Cola gần như được coi là một biểu tượng văn hoá tiêu dùng và ẩm thực của người Mỹ. Coca-Cola cũng là thương hiệu nổi tiếng nhất toàn cầu khi mà cứ mỗi giây đồng hồ có tới 11.200 người đang uống thứ nước giải khát màu nâu này. Tập đoàn Coca-Cola hiện có mặt tại 200 nước trên thế giới. Lịch sử ra đời và phát triển của nước Coca-Cola là lịch sử chiến thắng vinh quang và ngoạn mục của mặt hàng tiêu dùng bình thường nhất. Tập đoàn Coca-Cola có trên 30.000 công nhân ở khắp thế giới ngày đêm trực tiếp sản xuất bên những dây chuyền đóng chai và đóng lon Coca-Cola hiện đại. Đó chỉ là con số những người ăn lương trực tiếp của tập đoàn. Còn số lượng những người kinh doanh làm đại lý phân phối độc quyền hưởng hoa hồng của Coca-Cola thì có thể lên đến hàng trăm nghìn người. Coca-Cola luôn luôn tự hào dù đóng chai ở đâu nước nào thì mùi vị và chất lượng nước giải khát Coca-Cola không đổi. Gần như tất cả những gì mang tính bí quyết thành công mà tập đoàn Coca-Cola đã và đang thực hiện đều bắt nguồn từ ý tưởng của nhà doanh nghiệp tài năng Asa Candler. Nơi mà cách đây trên 100 năm Asa Griggs Candler làm xưởng sản xuất ngày nay là quảng trường Coca-Cola nôỉ tiếng của thành phố Atlanta. Câu chuyện về sự ra đời của nước uống Coca-Cola Là ông chủ đầu tiên của Coca-Cola nhưng thực sự Asa Griggs Candler lại không phải là người phát minh ra thứ nước uống đặc biệt này. Người đầu tiên sáng chế ra Coca-Cola là dược sĩ John Styth Pemberton chủ một phòng thí nghiệm và hiệu thuốc tư nhân. Với mục đích sáng chế ra một loại nước thuốc bình dân để chống đau đầu mệt mỏi Pemberton đã mày mò thử nghiệm và pha chế ra một loại sirô có màu đen như cà phê. Chỉ cần một thìa sirô pha cùng với một cốc nước lạnh là có được thứ nước giải khát nhưng có thể làm bớt nhức đầu tăng sảng khoái. Pemberton giữ bí mật công thức sáng chế và chỉ biết rằng thành phần quan trọng nhất của thứ nước uống này có chứa một tỉ lệ nhất định tinh dầu được chiết suất từ lá và quả của cây Kola. Đây là loài cây chỉ có ở vùng rừng nhiệt đới Nam Mỹ và có thành phần đáng kể koffein và cả kokain. Chính nhờ vậy mà nước uống có tinh dầu Kola đã có tác dụng làm sảng khoái chống mệt mỏi. Cái tên Coca-Cola được Frank M.Robinson kế toán trưởng của Pemberton đặt tên bắt đầu từ nguồn gốc đó nhưng đã thay chữ “K” bằng chữ “C” có vẻ dễ nhìn và quen thuộc hơn. Khi sáng chế ra nước uống Coca-Cola dược sĩ Pemberton rất tâm đắc và ông đi tiếp thị ở khắp nơi đặc biệt trong các quán “Soda-Bar” đang rất thịnh hành ở thành phố Atlanta. Đó là vào năm 1886. Nhưng Pemberton phải thất vọng vì thứ giải khát màu nâu quá mới lạ và không mấy ai chịu uống thử vì mọi người vẫn coi đó nếu uống được thì cũng là một loại thuốc chứ không phải là nước giải khát. Công thức pha chế Coca-Cola được hoàn thiện một cách rất tình cờ. Một nhân viên quán bar “Jacobs Pharmacy” đã nhầm lẫn pha siro Coca-Cola với nước sô đa thay vì nước lọc bình thường như đúng công thức của Pemberton. Nhưng kỳ diệu thay cốc Coca-Cola bị pha nhầm đó lại ngon miệng và làm sảng khoái khác thường. Coca-Cola khi đó mới thực sự là nước giải khát có thể phục vụ được số đông người tiêu dùng. Từ đó quán bar này trung bình mỗi ngày pha bán được 9 đến 15 ly. Tuy vậy cả một năm đầu tiên Pemberton chỉ mới bán được có 95 lít sirô Coca - Cola. Coca-Cola đã thuộc về Asa Griggs Candler như thế nào? Asa Griggs Candler - ông chủ đầu tiên của Coca-Cola Asa Griggs Candler sinh năm 1851 tại làng Rica vùng Carrol thuộc bang Georgia của Hoa Kỳ. Candler xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo. Quá trình công nghiệp hoá diễn ra rất nhanh đã buộc chàng trai Asa Candler phải rời bỏ quê lên thành phố kiếm sống như bao người khác với hai bàn tay trắng. Nói đúng hơn là Asa Candler chỉ có trong tay vẻn vẹn có đúng 1 75 USD. Với số tiền đó Asa chỉ có thể sống cầm hơi trong vài ba ngày tại chốn đô thị Atlanta lộng lẫy. Vào năm 1873 Asa mới có 22 tuổi. Chẳng có nghề gì trong tay vốn cũng không có nên Asa Candler chỉ có thể kiếm sống bằng nghề bán dạo đủ mọi thứ tạp hoá linh tinh. Sự cần cù và nhanh nhẹn của Asa Candler đã giúp ông lớn lên và thành đạt nhanh trong kinh doanh. Candler mở được cửa hàng kinh doanh tạp hoá mỹ phẩm. Dần dần ông chuyên về kinh doanh dược phẩm thông dụng và hoá chất dùng trong gia đình. Không chỉ bán lẻ ông còn bắt đầu bán buôn cho cả những người bán rong và những cửa hàng nhỏ nơi xa xôi. Tham vọng kinh doanh lớn của Asa Griggs Candler hình thành và thể hiện từ khi đó. Những quan hệ mua bán kinh doanh đã dẫn dắt Candler quen biết ông dược sĩ Pemberton. Candler cũng được thưởng thức thứ nước giải khát đặc biệt màu nâu mà ông không thể nào quên được và cho rằng không thể có gì so sánh. Đúng thời gian này Pemberton đang kinh doanh rất khó khăn nợ tiền hàng rất nhiều. Thế là cơ hội ngàn năm có một đã đến với nhà kinh doanh nhạy cảm với thời cơ như Asa Candler. Ông liều lĩnh và quyết đoán mua đứt công thức cùng với bản quyền pha chế Coca-Cola. Số tiền 2.300 USD mà Candler phải trả chẳng là gì đối với ngày nay nhưng cũng là một khoản tiền đáng kể vào thời điểm năm 1891. Ngay trong năm 1892 Candler đem hết vốn liếng dành dụm sau gần 20 năm kinh doanh để lập công ty nước giải khát Coca - Cola. Tuyệt đối bí mật công thức pha chế Sau khi hoàn thiện với soda là nước có ga công thức Coca - Cola không đổi từ đó. Về sau nhà sản xuất Coca-Cola chỉ có khuyên thêm người tiêu dùng nên uống Coca-Cola lạnh ở nhiệt độ 3 30 độ X là ngon nhất. Những chuyện kể về việc lưu giữ và bảo quản bí mật công thức pha chế Coca-Cola vẫn được kể lại và đưa tin như những câu chuyện bí ẩn mang tính huyền thoại. Chính nhờ sự bảo vệ bí mật công thức pha chế một cách tuyệt đối mà Coca-Cola đã làm khó khăn rất nhiều cho những kẻ muốn làm giả. Kể cả trong thời kỳ khoa học rất phát triển nhưng xác định đúng hoàn toàn công thức pha chế của Coca- Cola là điều không đơn giản. Trên thực tế Asa Candler khi sinh thời đã rất chú trọng tới bí mật công nghệ và bản quyền thương hiệu. Khi có trong tay công thức Coca-Cola điều đầu tiên Asa Candler phải làm là đăng ký ngay sở hữu bản quyền công thức pha chế và tên gọi Coca-Cola. Asa Candler đã có một ý tưởng tuyệt vời vừa để bảo đảm chất lượng vừa giữ gìn bí mật cao nhất của công thức pha chế. Thay vì bán sirô Coca-Cola đậm đặc thì Candler đã pha sẵn để cung cấp cho khách hàng người tiêu dùng. Với cách bán hàng thuận tiện đó thì lượng Coca-Cola tiêu thụ tăng rất nhanh nhưng đồng thời phải có rất nhiều cơ sở xưởng chuyên pha chế và đóng chai. Asa là người năng động với nhiều ý tưởng kinh doanh sáng tạo do không thể đủ sức tự mình đầu tư và quản lý các nhà xưởng đóng chai nên ông đã chủ động mời chào ký hợp đồng với các nhà đầu tư cá nhân. Cả một hệ thống Coca- Cola gồm các nhà máy và đóng chai Coca -Cola độc lập đã hình thành mà Asa Candler không hề phải bỏ vốn. Trong vòng chỉ 10 năm từ năm 1899 đến năm 1909 đã có 379 nhà máy Coca-Cola ra đời. Tất cả các nhà máy đều được hưởng thương hiệu của Coca-Cola theo công thức của Coca-Cola. Candler là người đầu tiên phát minh ra khái niệm “hệ thống Coca-Cola” như thế. Cũng chính nhờ tiếp tục áp dụng “hệ thống Coca-Cola” này mà nước giải khát Coca-Cola đã được các thế hệ điều hành sau Asa Candler đem đi chinh phục khắp thế giới. Ngay từ đầu Asa Candler đã rất kiên quyết trong việc bảo vệ chất lượng và bí mật công nghệ. Vì vậy thành phần quan trọng nhất để có nước giải khát Coca-Cola thành phẩm là sirô đậm đặc Coca-Cola vẫn do Asa Candler trực tiếp cung cấp đến từng nhà máy. Tập đoàn Coca-Cola ngày nay đã phát triển gấp hàng nghìn lần so với trước nhưng về cơ bản vẫn tuân thủ nguyên tắc kinh doanh đó của ông chủ đầu tiên Asa Griggs Candler. Không tiếc tiền cho quảng cáo Asa Candler đã vô cùng nhạy cảm khi phát hiện và đăng ký thương hiệu Coca-Cola. Thế nhưng các chuyên gia marketing còn khẳng định ông là một chuyên gia bậc thầy về marketing và xây dựng thương hiệu. Ai cũng biết rằng chất lượng mùi vị của Coca-Cola không hề thay đổi từ cả hơn 100 năm nay. Cái giỏi của tập đoàn Coca-Cola chính là các hoạt động quảng cáo marketing để xây dựng nên một thương hiệu hàng hoá nổi tiếng. Asa Candler không tiếc tiền cho quảng cáo để xây dựng thương hiệu. Ngay từ năm 1895 nước giải khát Coca-Cola đã có mặt ở tất cả các bang của Mỹ. Asa Candler đã thực hiện một chiến dịch giới thiệu sản phẩm lớn chưa từng có vào thời điểm bấy giờ. Đâu đâu Coca-Cola cũng có những đội tiếp thị bán khuyến mại với cái giá 5 cent quá rẻ cho một ly. Đồng thời trên các phương tiện đại chúng và các biển quảng cáo Coca-Cola xuất hiện với tần suất nhiều chưa từng có. Bắt đầu từ số không của một thứ nước giải khát đặc biệt chưa bao giờ có trước đó ông chủ Asa Candler đã như có phép thần khi biến Coca - Cola trở thành thứ nước giải khát “quốc hồn quốc tuý” của người Mỹ. Nếu như trong năm đầu tiên Candler chỉ bán được trên 30.000 lít Coca-Cola thì chưa đến 30 năm sau cả tập đoàn đã tiêu thụ được trên 70 triệu lít. Để bảo vệ và xây dựng thương hiệu Asa Candler đã nghĩ ngay đến việc phải có một bao bì đặc thù cho sản phẩm. Với ý nghĩ đó năm 1900 Candler đã đặt riêng chai thuỷ tinh màu xanh tên Coca-Cola. Khi nước uống Coca-Cola càng nổi tiếng thì càng là đối tượng bị làm giả. Vì vậy năm 1916 chỉ một năm trước khi qua đời Asa Griggs Candler đã đưa tiếp loại chai hình lọ hoa Tiffany không lẫn đi đâu được của Coca- Cola. Mẫu bao bì này được đăng ký bảo hộ độc quyền và còn được sử dụng cho đến ngày nay. Năm 1919 những người con và cháu được huởng thừa kế của Asa Griggs Candler đã bán cả tập đoàn Coca-Cola cho một tổ hợp tài chính ngân hàng với cái giá 25 triệu USD có thể tương đương với hơn 1 tỉ USD tính theo sức mua tại thời điểm đó.

(Theo Vneconomy)

 

More...

Chàng trai từng gõ cửa nhà cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu

By Đặng Hùng Vỹ

Chàng trai từng gõ cửa nhà cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu

Hôm nay tình cờ đọc được bài mình phải post lên ngay. Anh này tuy chưa phải giỏi nhất nhưng cũng được xem là hạng "đầu gấu" trong thị trường tài chính mới có 37 tuổi! Xuất thân cũng ko phải từ dòng dõi quys tộc mà làm được bao nhiêu thứ. Phục thật! Chàng trai từng gõ cửa nhà cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu Đó là người có biệt danh “Nguyên Vina Cap” hay “Nguyên Tài chính” - một chuyên gia về tài chính chứng khoán được đào tạo bài bản mới 37 tuổi. Năng động dám nghĩ dám làm và biết hoạch định đầu tư cho những cơ hội lâu dài Phạm Uyên Nguyên là gương mặt tiêu biểu của thế hệ trí thức trẻ Việt Nam trong thời đại mới. Nguyên tắc sống và làm việc của anh: Muốn được xã hội thừa nhận trọng dụng phải biết nghĩ đến lợi ích cộng đồng và tự phấn đấu rèn luyện mình thành người thực sự có năng lực. Ý thức tự lập từ nhỏ Từ thuở còn là học sinh Nguyên đã nổi tiếng là cậu bé tài hoa. Không chỉ học giỏi đều các môn cậu còn là một nhạc sĩ nhí sáng tác được các ca khúc như Hành khúc Minh Khai Ngồi lại bên nhau... đoạt nhiều giải thưởng của Sở GD-ĐT TPHCM và Thành đoàn. Bạn bè và người thân ai cũng nghĩ Nguyên sẽ theo con đường nghệ thuật. Ít ai ngờ rằng Nguyên lại thi vào Đại học Nông Lâm. Cậu chỉ nghĩ đơn giản: “Việt Nam là nước nông nghiệp học nông lâm sẽ có điều kiện đưa nền nông nghiệp nước nhà phát triển”. Nguyên từng đoạt giải nhất Eureka với công trình “Cách diệt ốc bươu vàng hại lúa”. Nhà nghèo nên Nguyên ý thức tự lập từ nhỏ. Lúc còn trên ghế nhà trường cậu sống được bằng công việc dạy kèm và viết báo. Thời sinh viên Nguyên từng thi vào và được làm phóng viên tập sự ở Báo Tuổi Trẻ. Một thời gian sau Nguyên chấp nhận thử thách và sẵn sàng trả giá trước những cơ hội mới và bỏ nghề làm báo. Trong một cơ duyên Nguyên được nhận vào công tác ở Viện Kinh tế TPHCM. Và thực tiễn công tác nghiên cứu nơi đây là chiếc nôi đào tạo cho một doanh nhân trẻ sau này. Người liều nhất thiên hạ Cứ ngỡ Nguyên sẽ bằng lòng ở lại với công việc mà cậu yêu thích. Nhưng không 26 tuổi không một xu dính túi Nguyên lên đường du học bằng những điều kiện mà khi nghe đến nhiều người phải lắc đầu: Tiền vé máy bay do một giám đốc người Nhật tặng; tiền ăn ở đủ cho 3 tháng đầu là của một Việt kiều trưởng đại diện một ngân hàng của Anh tại Việt Nam cho mượn cùng bức thư giới thiệu của GS Gibert với hiệu trưởng Trường Đại học Nanyang Singapore: “Nếu người thanh niên Việt Nam này không kiếm được học bổng thì đề nghị nhà trường cứ trừ vào lương hằng tháng của tôi”. Ba tháng đầu tiên nhanh chóng trôi qua ngoài thử thách về ngoại ngữ Nguyên phải đối đầu với chuyện cơm áo và học phí. Sau nhiều đêm suy nghĩ cân nhắc đắn đo cuối cùng Nguyên chọn cách liều lĩnh: Gõ cửa nhà của vị nguyên thủ đất nước Singapore cựu thủ tướng Lý Quang Diệu! Tiếp cận được vị cựu thủ tướng đã là chuyện không dễ trình bày được những tâm tư nguyện vọng của mình càng khó khăn gấp bội. Thế nhưng chàng thanh niên Việt Nam đã làm được điều đó. “Xin tự giới thiệu tôi là một sinh viên Việt Nam đang du học. Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng khâm phục từ lâu nay của tôi đối với ngài đối với những thành quả mà ngài đã làm cho đất nước Singapore”. Anh đã bắt đầu câu chuyện như thế. Nguyên không trực tiếp đề cập đến việc xin học bổng. Anh trình bày với vị cựu thủ tướng một cách thật tình về cuộc sống hiện tại những hoài bão cống hiến cho đất nước Việt Nam sau khi học xong và xin vị cựu thủ tướng một lời khuyên để anh có thể học và tồn tại được ở Singapore. Ngài cựu thủ tướng đã hỏi thăm anh về gia đình về những công việc anh đã làm trước kia... Câu chuyện cởi mở thân tình cứ thế trôi qua. Tiễn anh ngài Lý Quang Diệu nói: “Cuộc sống ở Singapore rất cạnh tranh. Đất nước này chỉ khuyến khích và chấp nhận hai loại người: một là giàu có hai là giỏi và thông minh. Anh đã đến được đây thì Singapore sẽ không đuổi anh đâu. Hãy biết suy nghĩ dài hạn đừng vì khó khăn trước mắt mà mất tự tin thui chột ý chí. Là thanh niên phải có một mục tiêu kế hoạch dài hạn...”. Không ngờ một tuần sau ngày đi gõ cửa liều lĩnh ấy Nguyên được Văn phòng Thống đốc Ngân hàng Singapore (MAS) mời đến phỏng vấn chính thức để được cấp học bổng. Vượt qua nhiều vòng sát hạch gay go cuối cùng Nguyên đã giành được học bổng toàn phần GSIC bao gồm cả học bổng cao học tại Singapore và tu nghiệp tại Mỹ. Tuy nhiên để được học bổng này Nguyên phải chấp nhận điều kiện ngặt nghèo: Sau khi hoàn thành chương trình tu nghiệp tại Mỹ phải ở lại Singapore làm việc 10 năm! Say mê đọc sách và tìm hiểu về kinh tế cùng với ngành học tài chính Nguyên sớm nhận ra rằng: “Việt Nam chúng ta nghèo không phải vì thiếu tiền mà vì thiếu lưu thông đồng tiền. Tôi tự xác định và cam kết mục tiêu cuộc đời mình gắn liền với việc góp phần làm gia tăng lưu thông dòng tiền giữa công chúng và doanh nghiệp để tạo ra giá trị gia tăng phát triển kinh tế Việt Nam...” Và khi cá gặp được nước! Với tấm bằng tốt nghiệp loại xuất sắc Nguyên muốn trở về nước ngay nhưng “món nợ” phải ở lại Singapore làm việc 10 năm của GSIC như cái án treo lơ lửng trên đầu! “Tôi là người gặp may! Trong lúc đang bối rối không biết thế nào thì tình cờ gặp được ông Trương Tấn Sang (lúc ấy là Bí thư Thành ủy TPHCM) ở Singapore. Tôi đã trình bày nguyện vọng của mình muốn về làm việc tại quê hương”- anh bồi hồi nhớ lại. Không bỏ lỡ thiện chí của một “hạt giống quý” ông Trương Tấn Sang đã tạo điều kiện cho Nguyên về nước để giúp xây dựng một định chế mới là Quỹ Đầu tư và Phát triển đô thị (HIFU). Chính phủ Singapore đã ủng hộ Việt Nam và thế là Nguyên được “giải thoát” 10 năm trả nợ! Như cá về với nước Nguyên tha hồ vùng vẫy. Anh trực tiếp soạn chương trình được mời làm thỉnh giảng về chứng khoán quản trị doanh nghiệp tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và nhiều trường đại học trên toàn quốc. Bên cạnh đó anh còn là người góp phần đắc lực trong việc thành lập Quỹ Đầu tư và Phát triển đô thị TPHCM. Anh được xem là một trong những người đầu tiên được đào tạo bài bản và góp phần đưa kiến thức về khái niệm hoạt động chứng khoán ở Việt Nam. Từ ngày thị trường chứng khoán manh nha hình thành và phát triển ở Việt Nam đến nay chỉ hơn 5 năm nhưng nó đã nóng lên qua các cơn sốt cổ phiếu và các sàn giao dịch sôi động. Dòng tiền trực tiếp giữa công chúng và các doanh nghiệp bước đầu đã được khơi thông và phát huy hiệu quả. Đó là phần thưởng ngọt ngào nhất đối với anh. Vì theo anh: “Khi đồng vốn được lưu thông sẽ tạo ra thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế phát triển”. Dù đã kinh qua nhiều cương vị nhưng anh vẫn thủy chung với lý tưởng mà mình đã chọn: “Làm gia tăng lưu thông đồng vốn giữa Nhà nước công chúng và doanh nghiệp”. Tuổi đời vừa tròn 37 nhưng Nguyên thực sự đang ngồi trên “núi việc” với những trọng trách nặng nề: giám đốc điều hành nguồn vốn hàng trăm triệu USD của VOF vừa là chủ tịch hội đồng quản trị Công ty Dệt Thắng Lợi lại còn là thành viên hội đồng quản trị của những công ty hàng đầu như Kinh Đô Dược Hậu Giang... Với biệt danh khá lẫy lừng “Nguyên Vina Cap!” ai cũng bảo anh tham công tiếc việc nhưng đó là sự chọn lựa tự nguyện của một trí thức trẻ say mê công việc như anh. Phạm Uyên Nguyên đang nuôi dưỡng một hoài bão lớn và cũng thực tế: “Tôi sẽ nỗ lực hết mình để Việt Nam sớm có được những tập đoàn đa quốc gia!”.

Source: http://www8.dantri.com.vn/nhipsongtre/2006/5/114482.vip

More...

Chuyện về chủ nhân tòa nhà chọc trời đầu tiên

By Đặng Hùng Vỹ

Chuyện về chủ nhân tòa nhà chọc trời đầu tiên.

Chỉ có trong vòng chưa đầy 30 năm từ một nông dân nghèo khó Frank Winfield Woolworth đã trở thành một trong những người giàu nhất nước Mỹ vào đầu thế kỷ 20. Bằng một ý chí nghị lực phi thường Frank Winfield Woolworth từ tay trắng đã lập nên cả một cơ đồ khổng lồ. Hệ thống bán lẻ của ông bao gồm hàng nghìn cửa hàng không những có mặt ở khắp nước Mỹ mà còn sang rất nhiều nước châu Âu. Tòa nhà thương mại khổng lồ mang tên Woolworth tại thành phố New York ngôi nhà chọc trời cao nhất nước Mỹ trong hàng chục năm đầu thế kỷ 20 hiện vẫn còn là một trong những biểu tượng về sức mạnh kinh tế của nước Mỹ. Tập đoàn thương mại Woolworth đã tồn tại phát triển hơn 100 năm với cả chục nghìn cửa hàng bán lẻ ở rất nhiều nước trên thế giới. Lúc Winfield Woolworth còn sống một mình ông đã xây dựng và chứng kiến sự ra đời của hơn 2.100 cửa hàng bán lẻ tại 5 nước khác nhau. Khi đó phần nhiều các cửa hàng là những siêu thị nhỏ chuyên bán lẻ các mặt hàng gia dụng hàng dệt may. Ngày nay mỗi một siêu thị đó đã là một trung tâm thương mại lớn và vừa. Hàng hóa của Woolworth tập trung vào nhu cầu của các gia đình trẻ thu nhập trung bình. Vì vậy các trung tâm thương mại Woolworth đều có đủ các đồ gia dụng thiết yếu hàng ngày như đồ điện đồ nhựa hàng dệt may đồ dùng quần áo trẻ em. Đặc trưng lớn nhất của các trung tâm thương mại Woolworth là khách hàng được tự do lựa chọn hàng và rất nhiều sản phẩm hàng hoá được bán chung một giá cho một đơn vị nhất định. Việc xây dựng thành công cả một hệ thống phân phối bán lẻ bao gồm hàng nghìn trung tâm thương mại là cả một kỳ tích trong một sự nghiệp kinh doanh huyền thoại của Frank Winfield Woolworth. Chính bản thân Frank Winfield Woolworth cũng vô cùng tự hào và kiêu hãnh bởi sự nghiệp kinh doanh vĩ đại có một không hai đó của mình. Chủ nhân của toà nhà chọc trời đầu tiên Vào năm 1910 Frank Winfield Woolworth đã cho xây dựng toà nhà thương mại cao nhất thế giới. Ba năm sau toà nhà mang tên Woolworth đã được khánh thành trong niềm hân hoan và kiêu hãnh của tất cả người dân thành phố New York. Đây chính là toà nhà được gọi là chọc trời cao nhất thế giới lúc đó. Với 59 tầng và tổng chiều cao 241 mét toà nhà thương mại Woolworth đã giữ kỷ lục cao nhất thế giới trong hơn hai chục năm liền. Hàng chục năm đầu và cho cả đến bây giờ toà nhà thương mại mang tên ông chủ thương mại tài giỏi Woolworth vẫn luôn là một điểm đến bắt buộc một kỳ quan đối với khách du lịch đến thành phố New York. Frank Winfield Woolworth đã thuê kiến trúc sư nổi tiếng Cass Gilbert thiết kế toà nhà. Đây không chỉ là một toà nhà thương mại sang trọng mà còn là một ngọn tháp hoành tráng cao vút một công trình kiến trúc mang đậm tính nghệ thuật của New York. Bản thân việc xây dựng toà nhà Woolworth cũng là một sự kiện đáng ghi nhớ đối với các chuyên gia ngành xây dựng. Lần đầu tiên công nghệ xây dựng nhà cao tầng bằng các cột trụ bê tông được áp dụng một cách hoàn hảo. Còn đối với giới tài chính và những đại gia giàu có khác thì điều đáng nói là khi xây dựng toà nhà cao ốc thương mại lớn nhất thế giới lúc đó Frank Winfield Woolworth không hề phải vay vốn ngân hàng. Ông cũng chẳng phải kêu gọi ai đầu tư góp vốn. Một mình nhà đại triệu phú lúc đó bỏ tiền riêng ra xây. Tất cả đều phải giật mình khi Frank Winfield Woolworth thanh toán 13 5 triệu USD cho toà nhà hoàn toàn bằng tiền mặt. Một con số khủng khiếp vào thời điểm cách đây gần 100 năm. Khi đó để mua những gói sản phẩm hàng hoá một giá của Frank Winfield Woolworth người ta chỉ cần 5 cent hay 10 cent. Ngày khai trương 13/4/1913 là một ngày đặc biệt đối với toàn thể nhân viên của tập đoàn Woolworth và rất ấn tượng với người dân New York lúc đó. Ông chủ Frank Winfield Woolworth giàu có đã cho thắp 80.000 chiếc bóng đèn để chiếu sáng cho toà tháp Woolworth cao nhất thế giới lúc đó. Không chỉ cao nhất toà tháp Woolworth còn sang trọng và tráng lệ bậc nhất. Tường trong toà nhà được ốp bằng đá cẩm thạch. Ba tầng đầu tiên được trang trí vô cùng lộng lẫy và tốn kém với những bức tranh quý trên tường cùng nhiều đồ trang trí đắt giá. Phòng làm việc của ông chủ Frank Winfield Woolworth được đặt tại tầng 24. Nơi đây Frank Winfield Woolworth đã thiết kế và trang trí theo đúng kiểu phòng mà vua Napoléon đã từng có. Chấp nhận làm không lương để học nghề Frank Winfield Woolworth lớn lên trong một gia đình rất cơ cực vất vả. Ông sinh năm 1852 là con trai lớn của một người nông dân nghèo tại Rodman một làng quê thuộc bang New York. Năm 1858 gia đình Woolworth chuyển về Great Bend nơi có nhiều ruộng đất hơn Rodman. Tại đây hàng ngày Frank Winfield Woolworth chỉ biết giúp cha làm đồng áng với mọi công việc làm đất gieo trồng chăm bón rồi thu hoạch ngũ cốc rau quả. So với trẻ em thành thị anh em nhà Woolworth khá thiệt thòi khi nghĩ đến sự học hành. Cả vùng chỉ có một lớp học duy nhất chung cho nhiều lứa tuổi. Hai anh em Frank Winfield Woolworth được học viết học đọc tại đây. Xuất thân từ con nhà lao động nông thôn Frank Winfield Woolworth rất chăm chỉ cần cù chịu khó. Ông luôn tìm việc để làm. Do vậy lúc 14-15 tuổi ông dành những thời gian nhàn rỗi đến bán hàng giúp cho một cửa hàng tạp hoá nhỏ gần nhà ga Great Bend. Và Frank Winfield Woolworth đã tỏ ra đặc biệt thích thú công việc này. Tại cửa hàng tạp hoá nhỏ này Frank Winfield Woolworth đã làm quen và phải làm tất cả mọi công việc. Không chỉ là chân chạy của ông chủ cửa hàng nhỏ mà từ sáng sớm đã phải lo sắp xếp hàng hoá ra bày. Tối đến lại phải thu dọn hàng. Mỗi khi có hàng mới về thì ông còn phải lo kiểm đếm dọn nhà kho để nhập hàng. Công việc bề bộn khiến Frank Winfield Woolworth làm quần quật từ 5 giờ sáng cho đến 10 giờ đêm nhưng ông không hề kêu ca chán nản. Về sau ông kể lại ông đến làm việc chỉ vì sở thích chứ không phải vì tiền. Lúc đó Frank Winfield Woolworth gần như không nhận được đồng thù lao nào từ ông chủ cửa hàng. Frank Winfield Woolworth coi đó là quá trình học nghề. Và trên thực tế ông đã học được rất nhiều bởi trước đó một cậu bé nông dân thật thà và chất phác như Frank Winfield Woolworth đâu có biết đến công việc bán hàng thương mại. Thay vì tiền công hàng tháng Frank Winfield Woolworth chỉ nhận từ ông chủ cửa hàng tạp hoá một lời hứa sẽ giới thiệu cho ông vào làm ở cửa hàng thương mại lớn hơn tại thành phố của ông chủ có tên William More. Từ năm 1873 mơ ước thoát ly khỏi cuộc sống nông thôn nghèo đã thành hiện thực. Như đã hứa Frank Winfield Woolworth đã được nhận vào làm nhân viên của hãng thương mại Ausbury & Moore khá nổi tiếng lúc đó tại quận Watertown New York. Chính tại hãng thương mại này Frank Winfield Woolworth đã học được tất cả những kinh nghiệm từ nhỏ nhất của nghề kinh doanh bán lẻ. Với một đam mê bán hàng hiếm có và một sự cần cù nhẫn nại phi thường Frank Winfield Woolworth lại tiếp tục nhận làm mọi việc mà ông chủ giao. Chính ông là người từ 6 giờ sáng có mặt đầu tiên ở cửa hàng để lau chùi nền nhà quét bụi hàng mẫu lau cửa kính... Ba tháng đầu Frank Winfield Woolworth làm việc không hề có lương. Và sau đó mặc dù chỉ thu nhập có 3 5 USD mỗi tháng cho công việc nặng nề với 15 giờ làm việc mỗi ngày nhưng Frank Winfield Woolworth không hề kêu ca phàn nàn. Ông vẫn coi đây là một nơi học hỏi cần thiết cho nghề bán lẻ mà ông đam mê. Năm 1876 Frank Winfield Woolworth lấy vợ đồng thời chuyển sang làm phụ trách bán hàng tại trung tâm thương mại Bushnall’s. Thu nhập của ông đã được tăng lên đáng kể với mức lương 10 USD mỗi tuần. Chính tại đây Frank Winfield Woolworth lại được tích luỹ kiến thức quản lý thương mại và kinh nghiệm tổ chức bán hàng để làm nên sự nghiệp kinh doanh vĩ đại về sau. Thành công với mô hình kinh doanh một giá Frank Winfield Woolworth được coi là một trong những người đầu tiên áp dụng mô hình một giá trong kinh doanh bán lẻ. Trong một lần đi mua hàng ở một tỉnh lẻ ở phía Tây nước Mỹ tình cờ Frank Winfield Woolworth thấy cửa hàng thanh lý hàng hoá với giá bán đồng loạt 5 cent cho mọi sản phẩm. Frank Winfield Woolworth quan sát thấy người mua đến rất đông. Một phần vì giá rẻ một phần vì họ được trực tiếp sờ vào hàng hoá để chọn lựa. Và thế là một ý tưởng kinh doanh bán lẻ mới mẻ và bất ngờ đã ập đến với Frank Winfield Woolworth. Tháng 2/1879 Frank Winfield Woolworth bắt đầu mở cửa hàng kinh doanh đầu tiên riêng cho mình tại thị trấn Uttica bang New York. Ông nhập hàng rẻ với tổng giá trị 321 USD trong đó phần lớn là những chiếc xẻng và dụng cụ gia đình khác. Tất cả các sản phẩm đều có cùng một giá thống nhất là 5 cent. Tuy nhiên lần thử nghiệm đầu tiên này Frank Winfield Woolworth đã thất bại. Không hề nản chí tự tin vào mô hình kinh doanh một giá ông tiếp tục thử nghiệm lần hai và tỏ ra còn bạo tay hơn. Chỉ vài tháng sau cùng trong năm 1879 Frank Winfield Woolworth đã cho khai trương đồng thời hai cửa hàng tại Pennsylvania và Lancaster. Mô hình kinh doanh một giá được hoàn thiện với 2 nhóm hàng hoá loại 5 cent và loại 10 cent. Hàng hoá của Frank Winfield Woolworth cũng phong phú hơn nhiều. Ông chủ trương lựa chọn hàng có chất lượng cao. Để đảm bảo áp dụng được mô hình 1 giá thống nhất 5 cent hoặc 10 cent thì rất nhiều gói hàng hoá bán ra sẽ có từ 2 đến 3 đơn vị sản phẩm khác nhau. Chẳng hạn một cái hót rác kèm theo một cái chổi con hai mũ người lớn kèm theo 1 mũ trẻ em áo sơ mi có kèm theo cà vạt 2 đôi găng tay hay 10 đôi tất cho cả nhà... Lần này Frank Winfield Woolworth đã thành công vượt ngoài mong đợi. Ngày đầu tiên khai trương hai cửa hàng ông đã bán được 127 65 USD hết sạch số hàng nhập về. Với mô hình giá thống nhất và hợp lí cho một gói hàng cùng với sự tự do lựa chọn xem hàng đã thu hút rất nhiều khách hàng đến mua. Doanh số bán hàng tăng rất nhanh. Ngay từ thành công đầu tiên đó với một cảm nhận kinh doanh đặc biệt Frank Winfield Woolworth đã rất tự tin và nghĩ rằng mình phải phát triển thật nhanh mô hình này trước khi người khác làm theo. Chẳng cần phải quảng bá giới thiệu nhiều rất nhiều họ hàng bạn bè thân của Frank Winfield Woolworth đã xin được mở một cửa hàng hay trung tâm thương mại như vậy. Và từ đó Frank Winfield Woolworth bắt đầu chiến lược xây dựng cả một hệ thống các cửa hàng và trung tâm thương mại mang tên Woolworth. Năm 1895 ông đã có 28 cửa hàng trung tâm như vậy trong đó bao gồm cả cửa hàng của Moore trước kia đã được ông mua lại. Nếu như năm 1908 Frank Winfield Woolworth có gần 200 cửa hàng trung tâm thương mại thì chỉ chưa đầy 3 năm sau con số này đã lên tới hơn gấp 3 với 600 cửa hàng. Tại thời điểm này cả tập đoàn thương mại Frank Winfield Woolworth với mô hình kinh doanh một giá nổi tiếng đã thu hút được gần 700 triệu lượt khách hàng mỗi năm với hơn 80 triệu USD doanh số bán hàng. Ông chủ Frank Winfield Woolworth đã đặt ra một tiêu chí là tại bất kỳ khu dân cư hay thị trấn nào có từ trên 8.000 dân đều cần phải mở một trung tâm thương mại hay một cửa hàng của Woolworth. Vài năm sau nữa Frank Winfield Woolworth đã kỷ niệm khai trương trung tâm thương mại thứ 1.000 của mình được đặt tại vị trí đẹp nhất giữa đại lộ số 5 của thành phố New York. Một trong những bí quyết quản lý của Frank Winfield Woolworth lúc đó là ông đã rất sớm chuyển nhượng một phần khá lớn cổ phiếu cho các quản lý cấp cao trưởng các trung tâm và cửa hiệu để đảm bảo sự gắn bó trách nhiệm và quyền lợi của họ. Theo Thời báo kinh tế VN

More...

Ingvar Kamprad- ông chủ của đế chế IKEA

By Đặng Hùng Vỹ

Ingvar Kamprad- ông chủ của đế chế IKEA

Đầu năm 2004 cái tên Ingvar Kamprad người sáng lập hãng IKEA được nhắc đến không ngớt trên các phương tiện truyền thông sau khi tờ tạp chí chuyên về kinh doanh của Thụy Điển Veckans Affarer đăng bài nói rằng ông đã “qua mặt” Bill Gates và được coi là người giàu nhất thế giới. Dù cơ cấu sở hữu “khác người” của IKEA biến bài báo trên thành chủ đề của những cuộc tranh luận với lý do khi đó Kamprad đã không còn là chủ của IKEA thì vẫn không ai nghi ngờ rằng IKEA là một trong những công ty tư nhân lớn nhất và thành công nhất thế giới với hơn 200 cửa hàng ở 31 quốc gia hơn 75 ngàn nhân viên và tạo ra lợi nhuận hơn 12 tỷ EUR hàng năm từ việc bán hàng Sự ra đời của một doanh nhân Kamprad sinh năm 1926 ở miền Nam Thụy Điển và lớn lên ở một trang trại có tên là Elmtaryd cạnh ngôi làng nhỏ ở Agunnaryd. Từ khi còn ít tuổi ông đã học được cách mua sỉ diêm ở Stockholm rồi bán lại với giá cao hơn chút ít. Khoản chênh lệch không nhiều nhưng đây quả là món tiền lời đáng mơ ước của một người dân nông thôn. Ông dùng khoản tiền này để tái đầu tư và mở rộng kinh doanh sang mặt hàng cá biển lúa mạch đồ trang trí cây thông Noel bút chì…Năm 17 tuổi cha Kamprad tặng ông một số tiền khá lớn để thưởng cho thành tích học tập ở trường phổ thông. Bạn có biết ông dùng khoản tiền đó vào việc gì không? Ông lập công ty IKEA. Sự ra đời của IKEA Cái tên IKEA được hình thành từ những chữ viết tắt của Ingvar Kamprad (I.K.) cộng với chữ cái đầu tiên của Elmtaryd và Agunnaryd trang trại và làng quê nơi ông lớn lên. Ông tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh sang một loạt các mặt hàng khác kể cả ví da đồng hồ đồ kim hoàn và tất chân. Khi phát triển năng lực kinh doanh để đáp ứng những đòi hỏi khác nhau của khách hàng ông tạm thời ngưng sử dụng thư đặt hàng mà thuê luôn những chiếc xe chuyên dùng chở sữa ở địa phương vận chuyển hàng cho mình. Hướng đến đồ gỗ nội thất Năm 1947 lần đầu tiên Kamprad đưa đồ gỗ và nhóm sản phẩm chính của hệ thống cửa hàng của IKEA. Việc khai thác nguồn hàng từ các nhà sản xuất địa phương cho phép ông giữ được mức giá bán thấp so với các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực này. Đồ gỗ nội thất dần dần trở nên “hút khách” và vào năm 1951 Kamprad quyết định không theo đuổi những mặt hàng khác mà chỉ dồn hết sự tập trung vào đồ gỗ. Năm 1953 IKEA mở phòng trưng bày đồ gỗ đầu tiên dưới áp lực rất lớn của đối thủ cạnh tranh. Lúc này công ty đang ở trong cuộc chiến về giá với đối thủ chính vì thế phòng trưng bày này giúp cho người tiêu dùng tiếp xúc gần hơn với sản phẩm đồ gỗ của công ty bởi họ nhìn thấy được chạm vào được cảm thấy và tin tưởng được vào chất lượng trước khi quyết định mua hàng. Cuộc đua dẫn đến sự đổi mới IKEA giờ đây đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới nhờ vào yếu tố luôn đổi mới và phong cách đặc trưng trong thiết kế kiểu dáng. Hầu hết sản phẩm đồ gỗ nội thất của IKEA đều có thể xếp gọn lại được nhờ đó tiết kiệm được chi phí vận tải hạn chế tối đa sự hư hỏng trong quá trình di chuyển tăng dung lượng hàng trên cùng diện tích kho bãi đồng thời giúp khách hàng dễ dàng hơn trong vận chuyển nếu họ không muốn sử dụng dịch vụ này của công ty. Tuy nhiên nguyên nhân sâu xa của việc này là áp lực cạnh tranh từ phía những đối thủ của IKEA đối với các nhà cung cấp của IKEA đến độ họ đã gần như tẩy chay IKEA buộc IKEA phải tự mình xoay sở. Kiểu dáng đẹp nhiều chức năng chất lượng cao cộng với giá bán thấp Tầm nhìn của Kamprad chính là động lực thúc đẩy thành công của IKEA. Công ty đã tuyển dụng và tổ chức đào tạo các nhà thiết kế của riêng mình. Kamprad tin rằng công ty tồn tại không chỉ để cải tiến phát triển cuộc sống mà phải hướng đến sự phát triển chính những con người ở đây. Việc thiết kế cửa hàng theo nguyên tắc tự phục vụ và tính đa dụng dễ kết hợp của các bộ phận đồ gỗ nội thất không hoàn toàn vì mục đích kiểm soát hay tiết kiệm chi phí mà đó còn là cơ hội để nhân viên công ty thể hiện sự sáng tạo. Ý tưởng này lại được củng cố thêm trong các chiến dịch quảng bá sản phẩm cũng như trong các cuốn catalog giới thiệu của IKEA. Tất cả đều ở trong gia đình Kamprad đã tỏ ra cực kỳ sắc sảo khôn ngoan thậm chí có đôi phần láu cá trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức của IKEA. Về thực chất công ty thuộc quyền sở hữu và điều hành của gia đình Kamprad theo phong cách Thụy Điển với hàng loạt công ty con kiểm soát những bộ phận khác nhau trong các hoạt động của IKEA như nhượng quyền kinh doanh sản xuất phân phối. IKEA thậm chí không chỉ một lần từ chối việc chiếm lĩnh thị trường bởi theo Kamprad việc này có thể làm chậm lại quá trình ra quyết định của công ty mỗi khi tung ra đợt sản phẩm mới- điều chủ yếu tạo nên đà tăng trưởng ấn tượng của IKEA. Tính tiết kiệm và lòng nhân hậu Một mặt Kamprad đại diện cho cuộc sống sự sung túc với “giá cả phải chăng”. Ông luôn sử dụng tàu điện ngầm để đi làm còn khi ông lái xe thì đó là chiếc Volvo cũ kỹ. Mọi người còn đồn đại rằng ông từ chối không uống soda với cái giá đắt đỏ ở trong quầy bar khách sạn nơi ông đang ở mà ra ngoài đi tìm cửa hàng gần nhất để mua. Thế nhưng ai cũng biết IKEA là công ty có truyền thống làm từ thiện luôn tài trợ các hoạt động ở địa phương cũng như ủng hộ cho quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức khác. Bạn hãy nghe ông chủ của IKEA tự nói về mình: ...... - Trong lĩnh vực kinh doanh tôi nghĩ rằng tôi không khác biệt lắm so với mọi người bởi vì cũng như họ tôi bắt đầu kinh doanh từ rất sớm. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in cảm giác sung sướng khi được cầm những đồng tiền lãi đầu tiên do chính mình làm ra. Lúc đó tôi mới hơn 5 tuổi một chút. - Có lẽ tâm trí tôi không hoàn toàn dành cho công việc trang trại đồng áng… Nhưng tôi luôn tự hào rằng tôi biết vắt sữa bò và biết đánh cỏ thành đống như một nông dân thực thụ. - Tôi cảm thấy vui thích trong mọi hoạt động kinh doanh. Nhưng tôi còn sung sướng hơn nhiều mỗi khi nắm bắt được ý tưởng mới và tôi biết cách thuyết phục người khác rằng những ý tưởng đó có thể trở thành hiện thực. Việc này giúp tôi không ngừng tìm kiếm những khả năng mới và suy nghĩ về tất cả những gì có thể sinh lợi nhuận. - Thành công hoàn hảo nhất là những thành công không gắn liền với mất mát. Đáng tiếc rằng tôi đã nhiều lần thất bại. - Tôi phải bỏ rất nhiều thời gian để học cách không tin vào người khác. Giờ đây khi lớn tuổi tôi đã trở nên thận trọng và biết đánh giá con người hơn nhưng với các cộng sự của mình tôi vẫn tin tưởng tuyệt đối. - Triết lý kinh doanh của IKEA được xác định bằng một nguyên tắc vàng: bất cứ vấn đề gì cũng phải được nhìn nhận như một khả năng mới. Chính các vấn đề mang lại cho chúng ta những cơ hội bất ngờ. - Đã từ lâu tôi luôn tuân theo một quy tắc cũ kỹ: giảm lượng hàng bán ra 1% sẽ kéo theo giảm doanh thu 10%. Vì thế tổng lượng hàng hóa bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng đối với IKEA. Vì thế kiểm soát chặt chẽ được chi phí ở tất cả các phân đoạn trong hoạt động kinh doanh gần như là sở thích của chúng tôi. - Đến bây giờ tôi vẫn giữ nguyên thói quen trả giá khi mua hàng. Vợ tôi rất khó chịu về chuyện đó. - Các nhà kinh tế của chúng ta thường khẳng định rằng cần phải tăng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận ròng. Tôi đã hỏi một nhà kinh tế: “Thế thì tỷ lệ đó là bao nhiêu?”. Tỷ lệ phần trăm cũng khó đoán như một câu đó vậy. Điều duy nhất làm chúng tôi quan tâm ở IKEA là trong túi chúng tôi còn lại bao nhiêu tiền sau kết thúc đợt bán hàng. - Triết lý của tôi có thể tóm tắt như sau: để quản lý tốt thì phải hiểu biết mọi việc đến từng chân tơ kẽ tóc. - IKEA không bao giờ mua hàng của IKEA mà người ta phải sản xuất thứ hàng khác dành cho chúng tôi. - Tôi vẫn thường hay nhắc nhân viên của mình rằng mặt hàng tốt nhất ở IKEA chính là việc cả người mua lẫn người bán đều không thiệt thòi mà cả hai đều nhận được điều gì đó. - Nếu chúng tôi có tạo ra cái gì đó mới mẻ thì đó là mời khách hàng uống cà phê và ăn bánh ngọt.Ngày nay sáng kiến này đã được biến thành chuỗi cửa hàng tiện ích hàng năm mang về cho công ty hơn 2 tỷ cron. Công việc buôn bán không thể thực hiện được với cái dạ dày rỗng. - “Điều gì là chính yếu trong quản lý?”- người ta vẫn hỏi tôi như vậy. Tôi nói đó là tình cảm. Nếu anh không chiếm được cảm tình của người khác anh không bao giờ có thể bán được thứ gì cho họ. Tình cảm và kinh doanh không hề loại trừ nhau. - Với vị thế và quyền uy của mình tôi có thể nói bất cứ chuyện vớ vẩn ngu ngốc nào mà không ai dám ngắt lời. Đây chính là rắc rối đáng sợ của nhà lãnh đạo. - Tôi không bao giờ thỏa mãn cả. Có điều gì đó nhắc nhở tôi rằng những gì tôi đã làm được hôm nay đến mai phải được làm tốt hơn.

(Tổng hợp và dịch từ Enterpreneur Mybiz)

More...

Warren Buffett- nhà đầu tư lớn nhất mọi thời đại

By Đặng Hùng Vỹ

Warren Buffett- nhà đầu tư lớn nhất mọi thời đại

Ngày nay các tỷ phú Mỹ vẫn luôn chiếm vị trí chủ đạo trong danh sách những người giàu có nhất thế giới tài sản khổng lồ của họ có được từ nhiều nguồn khác nhau từ các hoạt động kinh doanh khác nhau. Trong số đó vẫn có một nhà tỷ phú luôn được nhắc tới bởi sự “giản dị khiêm tốn” trước sau như một. Nhà tỷ phú sạch sẽ Theo Tạp chí Forbes Warren Buffett là nhà tỷ phú giàu thứ 2 thế giới với tài sản lên tới hơn 44 tỷ USD và trong 10 năm tới nữa gia tài của ông sẽ lên đến con số 100 tỷ USD. Nhưng nhà tỷ phú này hoàn toàn khác hẳn với những tỷ phú nổi tiếng của thập niên 80 như Ivan Boesky Micheal Milken. Ông được biết đến như một người đã giàu lên một cách “sạch sẽ”. Ông làm việc không cần đến máy tính thế nhưng ông luôn là một trong những người giàu nhất nước Mỹ trong thập niên 90 và được ông vua trong ngành công nghệ thông tin là Bill Gates rất mực hâm mộ. Đó là Warren Edward Buffett. Ông sinh năm 1930 học ngành Tài chính tại trường Tài chính Wharton niên khoá 1947–49 rồi bất ngờ chuyển qua đại học Nebraska rồi tốt nghiệp khoa này tại đây năm 1950. Chưa hài lòng với trình độ của mình ông tiếp tục theo học tại Đại học Columbia và lấy bằng thạc sỹ kinh tế năm 1951. Sau đó ông đi làm và thi thố một lúc hai khả năng nổi trội của mình: làm nhân viên kinh doanh đồng thời phân tích chứng khoán. Đến năm 1965 ông giành tiền mua được cổ phần lớn ở công ty dệt may Berkshire Hathaway và đến 1970 trở thành Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty. Và với tài năng của mình ông chủ tài ba này đã chuyển xưởng dệt may đó thành một tập đoàn khổng lồ vào thập kỷ 90 hoạt động trên các lĩnh vực "ngon ăn" nhưng khó làm nhất là mua bán công ty bảo hiểm sản xuất và dịch vụ... Tuy sống đơn giản không có gì nổi trội so với láng giềng nhưng tỷ phú này lại khá rộng lượng với các hoạt động từ thiện. Hiện ông đang cùng ca sỹ nổi tiếng Bono người đã hát trong đám tang vợ ông năm ngoái tham gia tích cực vào các hoạt động chống AIDS trên phạm vi toàn cầu. Cũng như Bill Gates ông tiết lộ là sẽ dành 99% tài sản của mình đóng góp vào quỹ từ thiện mang tên ông Quỹ Buffett cũng như tặng cho các tổ chức hoạt động từ thiện khác. Nhà tỷ phú này chưa quyết định sẽ để lại tài sản của mình cho ai trong số 3 đứa con của mình. Ông cho biết đã viết di chúc nhưng chỉ đề cập tới việc sẽ phân quyền quản lý Công ty Berkshire Hathaway của mình như thế nào và chỉ được mở ra xem sau khi ông chết. Người Mỹ thầm lặng được cả thế giới để ý Warren Buffett là một người Mỹ khá thầm lặng nhưng mỗi lời nói hành động đều khiến cả thế giới để ý. Người đàn ông giàu có bậc nhất nước Mỹ này sống khiêm tốn trong căn nhà ở thật xa phố Wall trung tâm tài chính và chứng khoán lớn nhất nước Mỹ và thế giới. Ông ở Omaha một thị trấn nhỏ với 300.000 dân cư thuộc tiểu bang Nebraska. Văn phòng của ông trông giống phòng khám của một bác sỹ chỉ có 11 nhân viên giúp ông điều hành cả một giang sơn của mình. Làm việc kiểu cổ xưa tức không cần đến máy tính và máy điện toán. Sự khiêm tốn của Warren Buffett đã khiến ông trở thành người hùng của nước Mỹ một nhân vật trong sạch đơn giản trung thực trong lĩnh vực tài chính. Nhà báo Adam Snith tác giả cuốn “Supermoney” viết về ông như sau: “Không cần máy móc theo dõi diễn biến lên xuống của các cổ phiếu công ty tại thị trường chứng khoán không cần thuốc an thần không cần cắt dũa móng tay cho đẹp không cần những chiến thắng rộn ràng. Chỉ cần những giá trị đơn giản dễ hiểu. Ông dành nhiều thời gian để nô đùa với các con trong những trận bóng hoặc ngồi nhìn cánh đồng lúa”. Rất khiêm nhường song tỷ phú Warren Buffett cũng có lúc "chơi nổi” và thỉnh thoảng đầu óc lại hơi khác thường. Năm 1983 nhân ngày lễ sinh nhật của mình ông đột nhiên nảy sinh ý định mua hẳn siêu thị bán bàn ghế Nebraska Furniture của bà Rose Blumkin. Ông tìm đến bà này hỏi giá ra về và nhanh chóng trở lại với tấm ngân phiếu 60 triệu USD. Mua luôn cả một siêu thị mà không cần hỏi qua ý kiến của một chuyên gia kinh tế nào chỉ có Warren mới dám nghĩ và đủ sức làm nổi. Người rất có duyên với... USD! Nhiều người coi Warren Buffett có những phép lạ đối với đồng USD. Donald Keough Chủ tịch hãng Coca-Cola một người bạn thân từ những năm 50 kể lại câu chuyện về Warren Buffet: “Tôi có 5 con và mỗi sáng đều phải đưa cả nhà đi làm. Warren có 3 con và anh ta ở lại nhà chơi xe lửa điện. Một ngày nọ Warren nói với tôi rằng nếu giao cho anh ta 5.000 USD tôi sẽ không còn phải lo lắng về việc có đủ tiền vào đại học cho các con nữa. Lúc đó tôi không rõ Warren làm gì nên làm sao dám giao cho 5000 USD. Nếu như tôi dám đưa cho anh ta món tiền ấy thì ngày nay tôi đã có dư tiền mua cả trường đại học”. Warren Buffet sinh ra trong một gia đình khá giả bố ông từng bốn lần làm nghị sỹ đảng Cộng hoà là chủ nhân một công ty buôn bán ngoại tệ. Chàng Buffet lúc mới 11 tuổi đã tập tành làm ăn mua bán cổ phiếu. Lúc đó cậu bé này mua 3 cổ phiếu của công ty có tên Cities Service Preferred với giá 40 USD mỗi cổ phiếu. Ngay sau đó giá cổ phiếu này hạ thê thảm song cậu vẫn giữ lại thay vì bán tháo để cứu lấy mấy đồng đầu tư. Không lâu sau đó cậu bán số của mình với giá lên tới 200 USD mỗi cổ phiếu. Quá ngoạn mục song ông chỉ thực sự nhảy vào lĩnh vực làm ăn từ năm 1956 với 5.000 USD tiền túi và 100.000 USD đi vay mượn của bạn bè để thành lập công ty. Khi công ty này giải thể vào năm 1969 thì vốn của nó đã tăng hơn 35 lần so với vốn ban đầu. Năm 1963 ông mua lại 5% tổng số cổ phiếu của American Express khi giá mỗi cổ phiếu chỉ có 35 USD. Năm năm sau mỗi cổ phiếu của công ty này đã tăng lên đến 189 USD. Trong những năm 70 ông đã đầu tư mạnh vào các công ty thông tin đại chúng và ông trở thành một trong những nhà đầu tư giữ các cổ phần lớn của tạp chí Time công ty quảng cáo hàng đầu nước Mỹ Ogilvy & Mathew công ty Interpublic. Danh sách liệt kê những thành công tài chính của Warren Buffet quả là không ngắn và trở thành những huyền thoại. Trị giá của Công ty Beshire Hathaway mà ông hiện đang làm chủ với 44% cổ phần trị giá hơn 10 tỷ USD Ngay cả việc mua nhà của ông chủ tập đoàn tài chính danh tiếng Berkshire Hathaway cũng sinh lời dù ông không chủ ý làm giàu từ lĩnh vực này. Ông mua ngôi nhà cách đây gần 50 năm ở Omaha với giá 31.500 USD. Năm 2003 các nhà định giá tài sản địa phương đã tính toán toàn bộ căn nhà của Buffett có giá 700.000 USD! Nhà tiên tri vùng Omaha Là bạn thân của Bill Gates song ông nhất quyết từ chối đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin vốn đang là mốt suốt hai thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước. Và vụ nổ bong bóng internet vào đầu năm 2000 cho thấy tầm nhìn xa và tỉnh táo số 1 của ông già tinh quái này. Ông đã không phải chịu cảnh phá sản hay sốc nặng như những nhà đầu tư chạy theo phong trào khác. Ông có biệt tài nhìn thấy những công ty có tiềm năng phát triển nhưng hiện còn bị đánh giá thấp hoặc rất thấp. Ông hơn hẳn hàng triệu nhà đầu tư khác chính ở chỗ đó. Nhờ mua những công ty và tài sản lúc giá còn quá thấp để rồi bán ra với giá cao ngất trời ít năm sau đó tỷ suất lợi nhuận của ông gần như không tưởng. Cụ thể trong gần 40 năm qua miệt mài đầu tư Công ty Berkshire Hathaway của ông đạt lợi nhuận trung bình 22 6%/năm. Tính chung từ năm 1965 tới nay lợi nhuận của Berkshire Hathaway đã tăng khoảng hơn 2.000 lần với việc sở hữu tới hơn 40 công ty con và tuyển dụng khoảng 150.000 nhân công. Đó là chưa kể tới những cổ phần giá trị lớn của ông tại Coca-Cola American Express Walt Disney hay Gillette hoặc những công ty nho nhỏ cỡ Geico hay General Re. Vụ khủng bố 11/9/2001 khiến ngành bảo hiểm suýt chút nữa lâm vào khủng hoảng. Khoản tiền đầu tư lớn của ông cũng bị thiệt hại nhiều lên tới 3 8 tỷ USD. Và cho đến nay đó vẫn là vụ thua lỗ đáng kể duy nhất của nhà tài phiệt này. Chính vì có khả năng nhìn xa trông rộng đến như vậy Buffett được mệnh danh là "Nhà tiên tri vùng Omaha". Cũng còn một số tranh cãi và dẫn chứng đây đó song đa số người Mỹ và những doanh nhân quốc tế từng làm việc với ông đều suy tôn ông là nhà đầu tư lớn nhất của thế giới ở mọi thời đại.

Source: http://vietnamnet.vn/kinhte/thuongnhan/2005/10/501565/

More...

George Soros - nhà quản lý tài chính của thế giới

By Đặng Hùng Vỹ

Cái tên George Soros đã trở nên hết sức quen thuộc với Phố Wall. Người ta biết đến ông như một nhà tỷ phú thành công nhất trong lĩnh vực đầu tư tư bản. Phía sau những thành công đó Soros là một nhà kinh doanh đầy cá tính và đã phải trải qua nhiều thăng trầm trong kinh doanh... Soros là người Do Thái sinh ra ở Hungary vào ngày 12/8/1930. Tuổi thơ của nhà tỉ phú này gắn liền với những ngày kinh hoàng khi phát xít Đức tàn sát người Do Thái trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Khi còn nhỏ ông được dạy rằng người Do Thái có thể chạy chứ không được lẩn trốn! Năm 1947 cậu bé Soros sang London một mình. Tại đây Soros tốt nghiệp trường Kinh doanh London vào năm 1952. Năm 1956 Soros sang Mỹ đoàn tụ với bố mẹ và các anh chị em và nhập quốc tịch Mỹ. Đây là nơi ông bắt đầu khởi nghiệp với 5.000 USD ít ỏi. Câu chuyện về cuộc đời của Soros có hai phần rõ rệt: một “máy làm tiền” và một nhà hoạt động từ thiện tích cực. Tuy nhiên người ta thường thích quan tâm đến tiền của Soros hơn là những mục tiêu lý tưởng mà ông theo đuổi. Soros đã viết 7 cuốn sách mang nhiều tính triết lý. Cuốn sách mới xuất bản gần đây nhất là cuốn “George Soros nói về toàn cầu hoá” xuất bản tháng 3/2002. Phương châm kinh doanh của Soros khá đặc biệt: trong kinh doanh việc bạn đúng hay sai không quan trọng cái quan trọng là nếu bạn đúng bạn sẽ có được bao nhiêu tiền và nếu bạn sai bạn sẽ mất bao nhiêu tiền. Năm 1973 là năm bước ngoặt của Soros: Sau một thời gian hoạt động trong lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế ông thành lập công ty quản lý đầu tư tư nhân mang tên Công ty quản lý tài chính Soros với số vốn 17 triệu đôla. Sáu năm sau đó ông đã tăng ngân sách của mình lên 100 triệu đôla. Thành công bước đầu này của Soros là nhờ sự kết hợp giữa khả năng phân tích sắc sảo thị trường tài chính thế giới và sự can đảm trong đầu tư. Goerge Soros chỉ ra hai nhân tố tạo ra một nền kinh tế bong bóng là: (1) nguồn tài chính ồ ạt chảy ra khỏi một thị trường chớm khủng hoảng đến những nước như Mỹ hay Tây Âu; (2) tỉ lệ lãi suất thấp tạo ra việc thanh toán hối phiếu thấp. Thêm vào đó Soros còn là một nhà lãnh đạo biết dùng người. Ông tự thấy mình may mắn khi được làm việc với những cố vấn giỏi như Gary Gladstein. Năm 1992 ông thu được một món lợi lớn từ những dự đoán chính xác của mình về thị trường tiền tệ thế giới. Ông mạnh dạn vay hàng tỉ bảng Anh và đổi sang đồng mác Đức với hi vọng bảng Anh sẽ sụt giá. Và thực tế diễn ra đúng như dự đoán của Soros khi bảng Anh rớt giá ông trả nợ và thu được tới 1 tỉ đôla chỉ trong vòng một tuần! Sự kiện này khiến Soros được biết đến như một nhà đầu cơ tiền mặt “vĩ đại” nhất của thế kỷ 20. Điều đó cho thấy Soros không chỉ là nhà kinh doanh có đầu óc nhạy bén mà còn là một người cực kỳ thực dụng. Ông luôn đưa ra quyết định dựa trên những xét đoán về điều đúng và điều sai theo phương châm trên. Soros đã từng làm cho biết bao người phải khổ sở bởi quyết định của ông có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính quốc tế. Nhưng những quyết định đó lại đáng giá hàng tỉ đôla! Tuy nhiên táo bạo không phải lúc nào cũng đem lại cho Soros những thành công. Khoảng giữa thập niên 1990 Soros bắt đầu ném tiền qua cửa sổ khi ông đầu tư gần 250 triệu đôla vào việc cấp học bổng và đào tạo sinh viên ở Nga. Nhiều người cho rằng phi vụ đầu tư này là một sai lầm của Soros. Mặc dù vậy George Soros tỏ ra là một nhà kinh doanh biết chấp nhận rủi ro và dám chịu mất mát. Sau một thời gian lãnh đạo Công ty quản lý tài chính Soros thành lập Soros Quantum Fund và đến năm 1998 giá trị của quỹ này tăng lên tới 6 tỉ đôla. Tháng 7/2000 Soros sáp nhập Quantum Fund với Quantum Emerging Growth Fund thành Quantum Endowment Fund. Hiện nay Soros vừa là chủ tịch hội đồng quản trị vừa là Tổng giám đốc Công ty. Công ty của Soros đảm nhiệm vai trò tư vấn cho bộ phận đầu tư quốc tế của nền kinh tế thế giới. Quantum Fund của Soros được đánh giá là quỹ đầu tư thành công nhất trong lịch sử kinh tế thế giới. Có lẽ một trong những yếu tố làm nên thành công của George Soros là ông luôn say sưa làm việc không mệt mỏi ngay cả khi đã ở cái tuổi “thập cổ lai hy” như vậy. Khi đã trở thành một nhà tỷ phú Soros bắt đầu hoạt động từ thiện và sống suy tưởng hơn. Ông được mệnh danh là nhà hoạt động từ thiện quốc tế tích cực nhất của thế kỷ 20. Nhưng Soros là một nhà từ thiện đặc sệt kiểu Mỹ ông không tài trợ tiền vào các nhà thờ bảo tàng... mà ông rót tiền vào những quỹ học bổng giáo dục. Ông cũng có thể cam kết rút tiền túi giúp những người nhập cư ở Mỹ 50 triệu đôla nếu ông thấy chính quyền có những chính sách không công bằng với cộng đồng người nhập cư. Soros chủ trương phát triển dân chủ trên thế giới. Mặc dù là một người Do Thái ông không e ngại khi nói rằng ông tẩy chay Israel. Ông đã phát biểu rằng với tư cách là một người Do Thái ông không tìm thấy niềm tin có thể khiến ông ủng hộ Israel. Soros là một người tiên phong đấu tranh vì tự do và dân chủ và ông không công nhận Israel là một nước có nền dân chủ. Tuy vậy phần lớn những đối tác làm ăn của Soros là người Do Thái. Thêm vào đó điều đáng chú ý là George Soros đã chi khoảng 10 triệu đôla cho một tổ chức có nhiệm vụ vận động chống lại tổng thống G.W.Bush trong cuộc bầu cử sắp tới. Trong một bản thông báo Soros phát biểu rằng ông Bush đã lãnh đạo đất nước theo đường lối sai lầm.

Source: http://www.vnn.vn/kinhte/thegioi/2003/10/31311/

More...

Luyện Tiếng Anh

By Đặng Hùng Vỹ

More...

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'15537','ijfpe49jtd9vpenn94756lql56','0','Guest','0','54.225.38.2','2018-08-16 12:00:30','/news/page-2.html')